Pages

Saturday, January 18, 2014

Hai ngày đầu ở Minnesota

Hai ngày đầu ở Minnesota, không có câu chuyện nào để kể có đầu có đuôi. Vì vậy cảm thấy không cần vắt óc ra mở bài, thân bài, kết luận. Chắc chỉ bình ảnh thôi.

Có những ảnh có lẽ cần viết lại thành bài viết riêng, nhưng hiện tại chỉ có chừng này ảnh nên đưa lên hết luôn. Thành ra bài này hơi dài dòng và không đi đến đâu. Dù sao cũng là tinh thần chung của blog: dài, nhiều ảnh, và toàn đi lạc đề.

Tất nhiên là mọi người (ở đây) ai cũng bàng hoàng vì mình "dám" từ bỏ New York City để chui về chốn không tên tuổi, khí hậu khắc nghiệt bậc nhất nước (cái lạnh ở đây ngay chính dân địa phương cũng không quen được, nghe bảo vậy). Lí do trình ra (hoàn toàn thực, chỉ có không theo thứ tự quan trọng) là: Thứ nhất là tên Minnesota theo mình là tên tiểu bang dễ thương nhất; dễ thương nhì là Tennessee. Thứ hai là các thành phố lớn đa dạng chùng tộc văn hóa hơn, trong khi vùng ngoại ô thì "Mỹ" hơn (những thành phần dân cư chiếm đa số ở Mỹ, bao gồm da trắng, tầng lớp trung lưu, đi nhà thờ; thường là cả ba). Thêm nữa là bờ đông và bờ Tây nước Mỹ mình đã tham quan nhiều (không nhiều, mới chỉ có New York, Washington DC, Seattle và Los Angeles là đi chơi đúng nghĩa đi chơi). Khu vực ở giữa vẫn còn là miền bí hiểm. Cuối cùng là mình đang mong có điều kiện và động cơ để lê thân ra ngoài chạy bộ, leo núi, trượt tuyết :).

Chỉ tiếc là những bài blog viết về điểm đến New York thu hút nhiều view hơn. Tuy nhiên muốn có chữ New York trong bài cũng không khó.

New York New York New York New York
New York New York New York New York
New York New York New York New York

Lúc máy bay hạ cánh đáp xuống Minneapolis International Airport đang ngủ nên không có ảnh. Nhắc mới nhớ, ghế máy bay của các hãng bay lớn bây giờ đã được trang bị gối đầu có thể bẻ lại thành hình chữ U, giúp cho ngủ khỏi ngoẹo cổ. Lấy tạm ảnh chụp Minneapolis, trạm transit ngày rời New York đến Seattle. Lúc đó có ủ ê một chút.


 Từ trên cao nhìn xuống thủ phủ Minneapolis chỉ thấy tấm mền trắng phủ kín mít. Không lẽ chờ thấy đèn hoa như New York?

Còn loạt ảnh tiếp theo đây là ảnh lúc Minneapolis chính thức là điểm đến cuối cùng, khoảng ba tuần sau khi đợt lạnh lịch sử ở khu vực đông bắc. Nhiệt độ đo được hôm ấy là 19 độ F, tương đương khoảng âm 7 độ C. Nghe đâu một tuần trước đó xuống tới âm 50 độ F, google đổi đơn vị ra được âm 45 độ C.

Có lẽ vùng miền Trung lạnh thì dễ chịu hơn khu vực đông bắc cùng số đo nhiệt độ thật. Đúng 1 năm trước đây, mình cũng vừa đặt chân xuống 19 độ F của New York. Lúc đấy mới thấm thía thế nào là lạnh cắt da hiểu theo nghĩa đen. Lạnh đến đau rát cả mặt. Gió quất như roi mây vào bất kì phần da để sơ hở nào.

 Đất trắng và người cũng rất trắng. AHA.
Thu nhập của Mr. Navorski những ngày đầu lưu lạc tại sân bay JFK là từ cái máy này đây. 25 xu thưởng cho ai có ý thức cất đặt lại xe đẩy vào đúng vị trí, vừa có mỹ quan mà vừa bảo đảm an toàn. Cũng để sân bay sạc tiếp $5 từ người khách kế tiếp cần xe đẩy.

Hôm về Seattle Thảo đã hối lộ được một bà dọn dẹp, $1 cho một xe đẩy. Thực ra người đề nghị là bà kia. Sau còn hớn hở tới mức nhiệt tình giúp Thảo vật hai cái va li từ New York về lên xe đẩy.


Hình như lần nào xuống sân bay cũng cà kê bên trong, tới khi ra tới băng chuyền thì chỉ còn chỏng chơ vài kiện hành lí cuối cùng. Hôm đó ra sớm vì sợ người đi đón chờ. Ra đến nơi phải chờ một lúc vì hành lí chưa được chuyển từ máy bay ra. Chợt để ý là người chờ lấy hành lí xếp thành một vòng tròn rộng quanh băng chuyền. Lấy được kiện thứ nhất rồi thì lui về vị trí chờ kiện thứ hai.

Tất nhiên là không khỏi nghĩ về Tân Sơn Nhất, khi mà mình tha hồ ngóc đầu nhìn qua vai các cô bác hăm hở lăm le, thấy kiện hành lí của mình quay vòng vòng mà không cách chi chen vào lấy được. Không biết ai dạy cho người ta hành vi này

Ảnh chụp đầu tiên khu down town Minneapolis qua kính trước của xe hơi.


Bạn đón Thảo là một bạn sinh viên quốc tế, người Trung Quốc, vừa đáp chuyến bay nửa vòng trái đất đến Minneapolis tối hôm qua, ngủ khách sạn một đêm để sáng đi đón Thảo. Nghe nói trường trả tiền khách sạn, nhưng cũng rất cảm động vì sự tận tụy này. Xe hơi đậu trong sân bay. Bạn có vẻ lịch sự, tử tế (nói gì thì nói, nhiều bạn Tàu lại hiền khô), học chuyên ngành Mathematics. Bạn là president của International Club của trường. Nói chung là mình nhờ được rất đúng người đi đón.

Bạn biết mình người Việt Nam nên ngỏ ý chở đi ăn nhà hàng Việt. Chạy xe tới khu downtown thì nhà hàng Việt không mở cửa. Thấy hoang mang tột độ vì nhà hàng ăn 10h30 sáng rồi vẫn chưa mở cửa.  Mình đã chính thức giã từ Thành phố Không bao giờ ngủ.

Cho nên ghé vào một chợ Hồng Kông cho bạn Tàu đi chợ. Bạn hỏi mình có muốn ăn tạm Burger King không, nhưng mình cũng muốn ghé xem khu chợ Á Đông ở Minneapolis.

Chợ Á Đông ở Minneapolis khá khiêm tốn. Đi dạo một vòng, thấy giá cả những món quen mắt rất ổn, tuy nhiên không thấy rau tươi và quá nhiều loại gia vị tên chữ tàu mình không biết. Bạn Trung Quốc đến chợ này chủ yếu vì món thịt cừu. Miền Bắc Trung Quốc cũng quen ăn thịt cừu.


Bên trong nhà hàng Việt. Thảo ăn phở và bạn Trung Quốc ăn bún bò. Ngon. Hóa đơn trường trả.


Trường đại học flagship của bang Minnesota: University of Minneapolis. Trường Luật ở đây cũng khá nổi tiếng. Đọc sơ qua trên website cũng khá hấp dẫn. Chắc định mệnh đem mình lại gần Minneapolis cũng có ý đồ cả.

Bạn cũng dễ thương. Thấy Thảo đưa máy ảnh lên thì chạy chậm lại. Tuy vậy vẫn không được tấm nào ra hồn. Chụp nhiều nhưng lúc nhìn lại vẫn trắng xóa một màu nên không upload hết, sợ ngán.

Dưới đây là máy chống cảnh sát. Bạn kể mua được ở California. Mỗi khi "đánh hơi" thấy cảnh sát sẽ bíp lên cho mình. Tuy nhiên mình đồ là cảnh sát ở đây biết được cái máy này có mặt cũng mừng. Đoạn nào chạy xe đúng luật được cũng càng khỏe cho người ta.


Một cơn vừa mưa vừa tuyết trút xuống. Lái xe 2 tiếng đồng hồ trên đường tuyết phủ cũng kinh thiệt.


International Center, mới vào lần đầu, lấy giấy tờ.

Phòng kí túc xá

Phòng đôi nhưng chỉ có mình Thảo. Rộng rãi hơn phòng ở New York. St. John's mà có cái phòng như thế này chắc nhét ba người.




Bồn đánh răng, rửa mặt ở trong phòng. Phòng tắm thì là phòng tập thể.

Phòng sinh hoạt chung nhỏ.
Phòng sinh hoạt chung lớn.

Thẻ sinh viên mới cáu. Tại sao trường nào cũng chụp lúc mới đáp máy bay đường dài xong, vật vã.


Phòng học nhóm trên lầu, có cả máy in.

Đây là tòa nhà kí túc xá nhìn từ phía ngoài.
Bên trái toàn nhà kí túc xá là International Center. Chiều học về Thảo hay vào đó ngồi chơi. Có một cây đàn piano lạc phím, buổi khuya có thể vào tập và ban ngày biểu diễn.
Còn bên trái International Center là một quả đồi phủ tuyết.
Vài ảnh nữa trong trường. Thảo vẫn chưa quen được đâu là đâu.


Một chuyến tour quanh campus lần đầu và bạn hướng dẫn.




Đây là dãy phòng học và phòng hành chính chính. Tất cả các lớp học của Thảo đều nằm trong building này. Bên phải là một vườn cây và vườn tượng, chắc mùa xuân sẽ rất đẹp.

 Nhìn từ đầu đường bên kia. Ảnh trên và dưới chụp lại vào một ngày nắng nên sáng rõ đẹp đẽ như vậy

Bên trong. Hôm nào sẽ làm một slide hình bên trong các tòa nhà vậy


 Khá tuyệt, họ có một phòng nguyện ngay giữa tòa nhà hành chính và giảng đường.



  
 Một điểm dừng chân không thể lí tưởng hơn giữa những giờ học căng thẳng.


Hành lang từ nhà nguyện nhìn ra ngoài.



 Mẹ Teresa. Nhất quyết lấy đây làm phương châm sống của chính mình. Bấm vô hình để đọc cho trọn vẹn nghe.

 Phòng tuyển sinh

1/6 của hội trường này là quán cà phê.


Tòa nhà thư viện. Thư viện không lớn như của St. John's nhưng đẹp hơn, mở cửa lâu hơn mỗi ngày, có nhiều ghế ngồi học bài hơn, và môi trường đọc sách khiến mình ưng ý hơn.

Thật kì là là một năm rưỡi ở New York mà lại lỡ hẹn với New York Public Library. Ghi thêm vào danh sách Lỡ hẹn New York. New York Public Library có phòng đọc sách lớn với kiến trúc Gothic, đèn chùm rực rỡ và bộ sưu tập đồ sộ các sách quý đông tây kim cổ. Tuy nhiên một thư viện nhỏ nhắn như vậy là phù hợp với nhu cầu của mình. Họ còn có cả báo New York Times. Những tưởng chia tay với New York là chia tay với New York Times, không ngờ duyên số còn vấn vương.

Thư viện ở đây còn hơn St. John's ở chỗ họ đầu tư cho một kệ sách mới và truyện tiểu thuyết của những nhà văn đến giờ vẫn chưa qua đời. Ngày đầu ngồi đọc ở đây còn vớ được quyển A Kiss Before Dying của Ira Levin bằng tiếng Anh. A Kiss Before Dying thuộc loại truyện trinh thám để đọc đi đọc lại để nhấn nhá, say sưa với từng chi tiết. Trong máy tính còn lưu lại bản dịch, tên là Cái hôn của tử thần nếu Bảo thích đọc một câu chuyện thuộc hàng kinh điểm. Bản dịch tuyệt vời, mặc dù còn thiếu sót đôi chỗ. Đọc lại lần này còn nhận ra được những từ ngữ trong môi trường đại học Mỹ và những địa danh nổi tiếng của New York City. QUÁ ĐÃ.

Đây là tòa nhà Student Center, có căng tin, phòng thư và bàn bóng bàn, billiard.



Một chuyến đi quanh thành phố. Cây cầu nhìn thấy thấp thoáng qua cửa kính kia nối liền tiểu ban Wisconsin với tiểu bang Minnesota.
Ghé ngang qua một công viên phủ băng. Kể ra thì rừng cây mùa tuyết phủ ở nơi đây (không nhất thiết là thông) đẹp như thế giới thần tiên của Andersen (ảnh chụp không lột tả được cho xứng đáng, do lạnh quá nên tay trong túi nào, không chụp hình). Khung cảnh làm gợi nhớ đến hai câu chuyện Bà Chúa TuyếtNữ thần băng giá, lấy bối cảnh ở Na Uy và Phần Lan.


Vùng màu trắng rất rộng bên dưới kia là sông Mississippi. Đối với mình thì hệ thống sông lớn nhất nước Mỹ này gắn với 2 cái tên: Tom Sawyer và Lucky Luke.



Một bàng thông tin khắc đá bị tuyết trùm lên. Không nhớ là người ta lấy tay phủi hay lấy gót giày phủi. Bên trên giới thiệu Winona là tên của một nàng công chúa Ấn Độ. Hay là tiếng Ấn Độ cho chữ "công chúa" quên rồi. Mà sao lại dính tới Ấn Độ ở đây?


 Các trường Mỹ rất hào hứng với học sinh quốc tế, đến nỗi họ giống như không nhận ra mình cũng hào hứng với văn hóa Mỹ y như vậy. Họ thích xếp các học sinh quốc tế với nhau.

Bạn da trắng đứng cạnh Thảo đến từ Thụy Điển. Bạn cao 1m90. Hiện tại trong ảnh đang khuỵu chân cho thấp xuống, gọi là nhìn thế giới qua một góc nhìn của người Á Châu. Không thì Thảo cao chưa chạm đến vai bạn. Đêm tụ họp hôm đó, mọi người có mặt học về đất nước Thụy Điển từ đại sứ Thụy Điển này nhiều hơn tất cả các đại sứ văn hóa có mặt ở đó (học nhiều nhì từ các nhà đại sử Ả rập, con trai các nhà tài phiệt dầu lửa, lái xe Mustang đi party), bởi vì bạn nói chuyện có duyên và tự tin, hào hứng quá. Bạn ấy có một kiểu tính cách điển hình, thường thấy là nói mà không bối rối khi nhận ra người khác đang nghe (không như mình). Sau một thời gian sống ở nước ngoài, mình nhận ra phải là người đi nhiều, sống nhiều ở các nền văn hóa khác nhau, thì mới đam mê kể các câu chuyện về đất nước của chính mình như vậy được. Vì đi nhiều mới nhận ra khác nhau chỗ nào để kể chứ, và bạn này đã đi gần hết châu Á và châu Âu. Một vài fun facts về đất nước Thụy Điển mà sau 1 tuần vẫn còn nhớ được.

(May mà khu vực Bắc Âu đã được mình dòm ngó nhiều, từ ABBA, Michael Learns to Rock, tới Andersen, và Joisten Gaarder- tác giả của Sophie's World, không bị nhầm Thụy Điển với Thụy Sĩ như mọi người)

  • 1m90 ở Thụy Điển chỉ là cao trung bình. Tất nhiên mình cũng nhớ Michael Learns to Rock cao như thế nào.
  • Theo Thảo thì do đất nước lạnh qua nên phải vươn lên cao đến mặt trời cho ấm. Còn bạn giải thích là do chế độ ăn giàu protein và ít đường bột. Dân Bắc Âu chỉ ăn nhiều thịt cá cho no mòng ra, hạn chế ăn gạo, mì, khoai tây.
  • Bạn chọn Minnesota vì khí hậu ở đây gần như là anh em song sinh của Thụy Điển.
  • Một trò chơi mà dân vùng cực cực kì đam mê mà mình đã quên tên. Vào mùa đông, bọn họ chui vào một căn nhà gỗ dựng gần bờ sông. Căn nhà kín mít, ở giữa có một lò sưởi hoạt động hết công suất. Ngồi cho đến khi nóng không chịu nổi thì chạy ù ra ngoài trời, nhảy xuống bơi nơi dòng sông băng ngay cạnh đó. Nghe nói chơi trò này cực tốt cho sức khỏe (so với việc vào phòng tắm vặn vòi nước từ nóng sang lạnh thì còn được bonus thêm chút vận động và không khí trời). Bạn kể có vài người bạn Trung Quốc đã cực sốc khi chứng kiến cảnh tượng ngoạn mục này, sau khi thử lại đâm ra ghiền, cứ thế suốt ngày làm tiên cá.
  • Thụy Điển cũng là một trong những quốc gia có dân cư khỏe mạnh nhất. Một mặt hàng được họ ưa dùng là nicotine gum, giống như kẹo ngậm có chứa chất nicotine trong thuốc lá, khi kẹp vào môi chất nicotine sẽ tìm đường và trong mạch máu. Hộp trong hình dưới đây mua ở Walmart, là sản phẩm của Đan Mạch, và bị bạn Thụy Điển chê là chưa đủ đô. Nicotine gum cũng được dùng cho người cai thuốc lá. Mặc dù không phải lần đầu nghe tới nicotine gum, nhưng có hay không khi mà bài viết về nicotine gum trên Wikipedia chỉ có 6 thứ tiếng: Anh, Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan, Catalonia (quốc gia Nam Âu) và Ả rập. Thảo vẫn dùng Wikipedia để kiểm tra độ phổ biến của một khái niệm. Ví dụ ông nhà triết học châu Âu nào có cả bài Wikipedia tiếng Việt nữa thì chắc là vai trò tầm cỡ lắm.

    • Bằng lái xe của Thụy Điển được chấp nhận tại tất cả mọi nơi trên thế giới, đơn giản vì cực kì khó đạt tiêu chuẩn. Ở Đan Mạch có chuyện nữ Thủ tướng cũng đi xe đạp, thì chắc ở Thụy Điển cũng vậy. Có lần mình đã dùng Google Maps đi ngao du phố sá của Copenhagen, thấy các bờ tường đen thui xe đạp dựng. Nhà nước còn cản trở việc lái xe của công dân bằng cách làm cho giá xe hơi mắc cắt cổ, bời vì...
    • chính phủ đánh thuế trên trời tất cả các mặt hàng, có lúc lên tới 50%, tất cả ngoại trừ mặt hàng sách. Người Thụy Điển đến Mỹ thì như bước vào khu đại hạ giá. Một ly cà phê Thụy Điển giá gấp 4 lần Mỹ, bù lại...
    • Trợ cấp xã hội ở Thụy Điển đủ cho người ta sống phủ phê. Cho nên (theo bạn kể), ở Thụy Điển có rất đông những người không đi làm mà sống dựa vào Nhà nước. Đấy chính là lí tưởng xã hội chủ nghĩa đã được thực hiện hóa ở các quốc gia Bắc Âu, càng mỹ mãn hơn nữa bởi vì...
    • Giáo dục và bảo hiểm sức khỏe ở Thụy Điển cũng miễn phí cho toàn dân. Như vậy mặt lật ngược của chế độ được hạn chế, bởi trong một môi trường tuyệt vời như thế này, ai chẳng muốn học tập, lao động (nhất là người ta vẫn nghĩ là học tập và lao động cho bản thân). Tuy nhiên...
    •  để vào được Đại học cực kì khó. Ở đây khá giống ở Đức, nơi mà trẻ con lớp 5 trở lên đã được tách ra làm 2 nhóm học riêng, một học nghề và một học để lên đại học, hay là chương trình phân chia A Level, O Level của Anh; và theo Thảo thì khác tư tưởng của giáo dục Mỹ. Ở Mỹ người ta tin vào cạnh tranh trong giáo dục và equal opportunity hơn. Có lẽ những ai không vào được đại học châu Âu thì Mỹ mở cửa đón chào, bởi vì...
    • Visa Mỹ cấp cho người Thụy Điển kéo dài đến 4 năm. Của mình là 1 năm.
    • Kể về quan hệ quốc tế: ngày xưa vương quốc Thụy Điển chạy từ Na Uy sang Phần Lan và xuống tới Đan Mạch. Sau đó Phần Lan bị Nga chiếm. Na Uy dành được độc lập. Sau đó Thụy Điển "nhập khẩu" vua từ Pháp.
    • Theo bạn thì Hoàng tử Thụy Điển đối với bạn như là friend of a friend, bởi vì đất nước 9 triệu dân và hầu như tất cả mọi người đều tập trung về thủ đô Stockholm. Thế là khi có người đòi gặp mặt chàng Hoàng tử thì bạn móc điện thoại ra.... tưởng cho số điện thoại, ai dè chỉ là để search hình chàng. Ôi zời.
    • Theo bạn thì vai trò của hoảng gia nơi đây như vật làm kiểng và, chừng nào họ tạo được scandal thì vui.
    • Quán quân môn bóng bàn thế giới là Trung Quốc, còn Á Quân là Thụy Điển.
    • Thụy Điển nằm trong EU và vẫn sử dụng đồng tiền riêng của mình là đồng crown.
    • Bạn không thích ABBA (=.=) nhưng đã đến tất cả các concert của ban nhạc Green Day. Green Day là ban nhạc rock người Mỹ những thích lưu diễn ở châu Âu (=.=)



    Bạn Gabriela đến từ Columbia 1 học kì để học tiếng Anh. Bạn rất xinh. Quả là vùng đất Nam Mỹ nổi tiếng về các hoa hậu và cầu thủ bóng đá.


    Ảnh các học sinh quốc tế mới treo trên tường.

    Tạm thời không nghĩ ra được cái gì hay ho để nói về bản thân mình.



    Friday, January 10, 2014

    "Con gài của Rappaccini"- Nathaniel Hawthorne

    Một năm trôi qua cũng phải thêm được chút gì chứ. Dù có giết chết một tuyệt tác văn học bằng việc chuyển ngữ, thì cũng giúp mình luyện tiếng Việt

    NGƯỜI CON GÁI CỦA RAPPACCINI 

    Từ lâu lắm rồi, một chàng trai trẻ, Giovanni Guasconti, đến nơi này từ tận miền nam nước Ý để theo học trường Đại Học Padua. Tài sản quý giá của chàng không có gì ngoại trừ một nắm vàng trong túi áo. Chàng trọ trong một căn phòng ảm đạm nằm sát tầng thượng một căn biệt thự đồ sộ có cái vẻ từng là lâu đài thuộc về một nhà quý tộc Padua. Quả thực trên cánh cửa ra vào vẫn còn khắc nhiều rất nhiều huy hiệu của một gia tộc đã từ lâu tuyệt giống. Chàng trai lạ mặt, chẳng phải không có học thức về nền văn học nước nhà, nhớ lại rằng một người tổ tiên của chàng, có lẽ cũng là chủ nhân của tòa lâu đài này, đã được Dante lấy làm hình mẫu khắc họa kẻ gieo rắc thống khổ trong tuyệt phẩm Inferno. Tất cả liên tưởng ấy, cộng với nỗi bồi hồi của một chàng trai trẻ lần đầu xa nhà, khiến Giovanni đánh tiếng thở dài nặng nề khi chàng đưa mắt nhìn quanh căn hộ lẻ loi và trống huơ trống hoác.

     “Lạy Đức Mẹ đồng trinh!” bà vú già Lisabetta thốt lên. Rất ấn tượng với vẻ đẹp đến choáng ngợp của chàng trai trẻ, bà sẵn sàng nán lại giúp vui cho chàng “Một tiếng thờ dài như vậy sao lại có thể đến từ miệng của một chàng trai trẻ? Chàng nghĩ căn nhà này u buồn lắm chăng? Hãy nhìn ra cửa sổ, và chàng sẽ thấy mặt trời cũng rực rỡ như khi chàng đã bỏ lại ở Naples vậy.”

     Guasconti máy móc làm như được bảo, nhưng cảm thấy không thể đồng ý với bà lão rằng mặt trời ở Paduan cũng tươi vui như ở miền Nam nước Ý. Dù sao thì ánh nắng này cũng ngập tràn trên khu vườn ngay bên dưới bệ cửa sổ, nơi sinh sống vô số các loài thực vật dường như đã được chăm sóc với độ tỉ mỉ đặc biệt.

    “Khu vườn này cũng thuộc về căn nhà ư?” Giovanni hỏi. “Lạy Chúa lòng lành, trừ khi khu vườn ấy đầy những thảo mộc lành mạnh hơn mọi thứ cây cỏ trong này.” bà Lisabetta trả lời “Không, khu vườn này được gây dựng bởi chính bàn tay của ngài Gaicomo Rappaccini, vị bác sĩ lừng danh mà tôi dám bảo có tiếng tăm vang đến tận Naples. Người ta đồn rằng ông ta chiết xuất từ các thứ cây này các loại y dược mạnh tựa như bùa chú. Thường thì chàng sẽ thấy vị bác sĩ làm việc, và đôi khi cả con gái người đang nhặt hái những bông hoa lạ lùng mọc trong khu vườn.” Bà quản gia giờ đã làm mọi thử có thể cho căn phòng, sau khi cầu chúc cho tất cả các vị thánh phù hộ chàng trai trẻ, đã cáo lui.

    Giovanni vẫn không tìm được gì đáng làm hơn là nhìn ngắm khu vườn bên dưới. Từ vẻ ngoài, chàng đánh giá đấy là một trong các khu vườn thí nghiệm có nguồn gốc xa xưa trên đất Padua hơn là bất kì nơi nào khác trong lãnh thổ nước Ý hay trên cả thế giới. Hay là nơ đây đã một thời dùng làm nơi tiêu khiển cho một gia đình giàu có. Bởi rằng ngày giữa trung tâm khu vườn là đống đổ nát của một thác nước cẩm thạch, chạm khắc bởi những hình dáng lạ lùng, nhưng vỡ nát một cách đau lòng, khiến cho không thể nào nhận dạng hình thiết kế ban đầu từ những mảnh vỡ còn sót lại. Thế nhưng ngòi nước vẫn tiếp tục phun lên, phản chiếu ánh nắng lấp lánh tựa hồ rất vui vẻ. Một chút tiếng nước róc rách vang đến tận khung cửa sổ của chàng trai trẻ, khiến chàng hình dung thác nước này như một linh hồn bất tử, mãi mãi hát lên bài ca bất diệt, không hề lưu tâm đến mọi biến cố thăng trầm xung quanh, khi mà từng thế kỉ trôi qua để lại dấu ấn hủy diệt lên đá cẩm thạch và mọi hình khắc trang trí. Xung quanh cái hồ nơi thác nước trồng muôn ngàn hoa thơm cỏ lạ, dường như là những loại cần thật nhiều hơi nước mát lành để nuôi dưỡng những cái lá khổng lồ, hay ở những cây khác là những bông hoa đẹp kì vĩ. Đặc biệt nhất là một cây trồng trong chậu cẩm thạch đặt ngay giữa hồ, nơi đó trổ những bông hoa tím, lộng lẫy và sáng chói tựa như những viên ngọc quý, hết thảy tạo thành một khung cảnh ấn tượng đến mức đủ khiển cả khu vườn sáng bừng kể cả khi mặt trời đã khuất bóng. Mỗi tấc đất chen chúc các loài cây cỏ, dù có kém tươi đẹp thì vẫn mang cái vẻ được chăm chút vô cùng kĩ lưỡng, cảm giác như mỗi cây hoa đều mang một phẩm chất đặc biệt của riêng mình, và bộ óc của nhà khoa học chăm sóc chúng hiểu rất rõ. Một số cây được trồng trong những cái bình cổ ngoằng nghoèo những hình khắc, một số khác trong những chậy cây thông thường. Một số bò trườn như rắn trên mặt đất, hoặc cố bám để leo lên cao, cuốn lấy bất kì vật gì trong tầm với. Một cây dây leo đã cuốn mình quanh bức tượng thần Vertummus, làm cho bức tượng giờ được bao phủ bởi nhiều tầng lá xanh, một sự sắp xếp tài tình đến nỗi khiến cho bức tượng đáng được đem làm tài liệu giảng dạy được.

    Giovanni hãy còn nán lại bên cửa sổ khi chàng cảm giác có tiếng lá cây xào xạc và nhận thấy có người đang làm việc trong vườn. Hình dáng của người đàn ông dần lọt vào thầm mắt, cho thấy rõ ràng không phải là một người làm vườn bình thường. Ông ta cao nhưng gầy hốc hác, vàng bủng và trông bệnh hoạn, khoác màu áo choàng đen của học giả. Ông đã quá tuổi trung niên, tóc xám và chòm râu thưa, với khuôn mặt hằn vẻ trí thức, nhưng hẳn chưa bao giờ, kể cả trong những ngày trai trẻ, từng gợi lên chút ấm áp thật lòng nào.

     Không gì có thể bì được với sự căng thẳng của nhà khoa học này khi ông ta chăm chú xem xét từng nhánh cây chìa ra trên lối đi: có vẻ như ông nhìn xuyên thấu vào bản chất tự nhiên sâu xa nhất của chúng, giám sát từng đặc điểm kiến tạo, và cố gắng giải mã tại sao chiếc lá này mọc thành hình thù như vậy và cái kia thì không, và từng khác biệt chi li vè mùi hương và hình dáng cánh giữa những bông hoa cùng loài. Ngoài sự hiểu biết và vẻ trí thức sâu sắc, không hề có một động chạm thân mật nào giữa ông và đám thực vật kia. Ngược lại, ông tránh tuyệt đối mọi tiếp xúc với chúng, một sự né tránh đập vào mắt Giovanni hết sức khó chịu. Bởi sự ghê tởm ấy đến từ con người đang đi giữa những luống hoa kiều diễm, tựa như đang đề phòng ác thú, rắn đôc hay quỷ dữ, mà chỉ một giây lơ là thì hậu quả sẽ khôn lường. Đáng sợ thay là bầu không khí bất an ấy lơ lửng xung quanh kẻ đang chăm một khu vườn, cái thú tiêu khiển lành mạnh nhất của người bình thường, một thứ mô phỏng công việc và niềm vui của Đấng kiến tạo. Phải chăng, phải chăng đây là vườn Địa Đàng của thế giới hiện đại này? Và con người này, với ám ảnh nhận thức về những thứ độc địa do chính bàn tay ông ta tạo nên,-- phải chăng đây chính là Adam?

     Con người hoài nghi này, khi ông ngắt những chiếc là úa hay cắt tỉa những nhánh cây thừa thãi, bảo vệ đôi tay bằng một cặp găng dày. Cảm thấy trang bị như vậy hãy còn chưa đủ. Khi bước ngang qua khu vườn đến chỗ cái cây kiêu sa treo những viên ngọc tím, ông kéo lên mặt một thứ mặt nạ che kín miệng và mũi, cứ như hết thảy vẻ đẹp kia che đậy một thứ quỷ quyệt chết người. Cảm thấy việc làm ấy cũng quá nguy hiểm, ông ta giật ngược lại, gỡ bỏ chiếc mặt nạ và gọi lớn bằng chất giọng khàn đục của một kẻ bệnh tật, “Beatrice! Beatrice!”

    “Con đây, thưa cha. Có việc gì chăng?” một giọng trẻ trung vọng ra từ cửa sổ bên ngôi nhà đối diện, sống động tựa như ánh mặt trời vùng nhiệt đới, giọng nói khiến Giovanni nghĩ đến, mặc dù chàng không hiểu tại sao, một màu đỏ tía và tím thăm thẳm, và không gian đậm đặc mùi nước hoa nồng. “Cha ở trong vườn ư?”

    “Phải, Beatrice,” người làm vườn trả lời, “và ta cần con giúp.”

     Liền sau đấy hiện ra dưới cánh cổng chạm hình dáng một người con gái, một người con gái đánh động mạnh mẽ đến mọi giác quan tựa như những đóa hoa tươi thắm nhất, đẹp như sáng ngày, với những đường cong mềm mại và rõ nét đến nỗi một chút e ấp cũng là quá nhiều. Nàng trông tràn trề sinh lực; thế nhưng tất cả những đặc điểm ấy, trong sức xuân hừng hực của nàng, được kìm xuống như con ngừa hãm cương bởi vòng tròn trinh trắng và thánh thiện bao quanh nàng. Về phía Giovanni, có lẽ mọi tư tưởng của chàng đã nhuốm một màu u ám, bởi ấn tượng trong mắt chàng về người con gái xinh đẹp lạ lùng kia là như thể nàng cũng là một đóa hoa, một người chị em mang hình dáng con người của đám thực vật kia, mặc dù tươi thắm hơn cả những bông đẹp nhất, nhưng chỉ có thể được chạm vào qua một lớp găng tay và không thể tiến lại gần nếu không trang bị một chiếc mặt nạ. Khi Beatrice rảo bước trên những lối đi, có thể thấy rằng nàng mơn trớn và hít căng mùi hương từ những cây hoa mà người cha nàng đã tránh như tránh tà.

     “Beatrice,” người cha nói, “xem xem bao nhiêu liều mới đủ cho của báu của chúng ta. Cằn cỗi như ta đây, cái mạng ta sẽ phải trả giá đắt nếu ta tiến lại gần nó như nó đòi hỏi. Vì thế, ta sợ rằng phải giao phó nó hoàn toàn cho con.”

     “Con rất vui lòng được làm như cha bảo,” cái giọng sống động ấy lại thốt lên khi nàng cúi xuống cái cây hoa đẹp lộng lẫy và vòng tay ôm lấy nó. “Phải, em gái ta, điều kì diệu của ta. Beatrice của em sẽ là người chăm sóc và nuôi dưỡng em. Đổi lại, em sẽ ban cho ta những nụ hôn và hương thơm của em, thứ mà đối với ta tựa như hơi thở của cuộc sống.”

    Và rồi, với tất cả trìu mến trong cử chỉ khiến cho lời nói của nàng quả thật không có chút phóng đại nào, nàng đắm mình bận bịu với việc chăm cho cái cây kiểng mọi sự quan tâm chăm sóc mà nó đòi hỏi. Và Giovanni, từ khung cửa sổ cao ngất, đưa tay dụi mắt và tự hỏi đấy là người con gái chăm cho cái cây kiểng nàng yêu thích nhất, hay là người chị lớn nâng niu em nhỏ với tất cả yêu thương. Khung cảnh ấy cũng nhanh chóng tan rã. Bởi vì hoặc là Tiến sĩ Rapaccini đã hoàn tất công việc trong vườn, hoặc là đôi mắt đôi mắt cảnh giác của ông đã thoáng thấy chàng trai lạ mặt, mà ông khoác tay cô con gái bước vào nhà. Đêm tối khép lại, và mùi hương hoa ngạt thở dường như tìm đường lên trên xuyên qua khung cửa sổ mở. Gianovanni bước về chiếc ghế tràng kỉ dài và mơ về hoa và người trinh nữ. Hoa và trinh nữ thực không mấy khác nhau, cả hai đều ẩn chứa một mối tai ương tiềm ẩn.

    Thế nhưng ánh sáng ban ngày bao giờ cũng có khuynh hướng điều chỉnh lại những sai lầm của trí tường tượng lẫn óc phán đoán, hai thứ dễ bị đánh lừa trong bóng tối sau phút hoàng hôn, hay trong thứ ánh sáng nhạt nhòa của vầng trăng. Việc chàng làm đầu tiên sau khi vừa thức dậy là bật tung cửa cánh cửa sổ nhìn xuống khu vườn, nơi đã gieo trong giấc mơ chàng đầy những hạt bí ẩn. Chàng thấy ngạc nhiên và có chút xấu hổ khi nhìn thấy mọi vật rất đỗi thực tế và bình thường. Khi những tia nắng ban mai chiếu xuyên qua những hạt sương đọng trên lá và những cánh hoa, tô điểm thêm cho vẻ đẹp của những bông hoa quý hiếm, và cũng mang chúng trở lại bên trong ranh giới của những gì tự nhiên. Chàng trai trẻ vui mừng rằng trong lòng tỉnh lẻ nghèo nàn, chàng có được cái đặc ân là góc nhìn vào khu vườn sang trọng và đáng yêu này. Nó đối với chàng, chàng tự nhủ, sẽ như là hiện thân của thiên nhiên. Ngài tiến sĩ bệnh hoạn Giacomo Rappaccini lẫn cô con gái xinh đẹp của ông đều không hiện diện; cho nên Giovanni chưa thể kiểm chứng xem những phẩm chất chàng nhận ra ở họ là thật hay chỉ là sản phẩm của óc tưởng tượng; nhưng chàng quyết tâm đánh giá mọi vấn đề theo cách khách quan nhất.

    Trong ngày hôm ấy, Giovanni đến thăm giáo sư Pietro Baglioni, giáo sư y học ở trường, một bác sĩ rất có tiếng tăm và địa vị. Vị giáo sư là một người lớn tuổi có cung cách vui vẻ, dễ chịu. Ông giữ chàng trai trẻ lại dùng bữa tối và khiến chàng hết sức tự nhiên, thoài mái bằng tài ăn nói lôi cuốn và phóng khoáng, đặc biệt khi các cuộc đối thoại được làm nóng bằng vài cốc rượu Tuscan. Giovanni, đoan chắc rằng hai nhà khoa học, sống cùng một thành phố hẳn phải quen biết nhau, nhân cơ hội này nhắc đến tên Tiến sĩ Rappaccini. Nhưng vị giáo sư không trả lời với chút hào hứng nào như chàng đã mong đợi.

    “Chẳng có nhà y sĩ chân chính nào mà không biết và ca tụng tài năng như Rappaccini,” ông trả lời, “Thế nhưng mặt khác, lương tâm ta không cho phép một chàng trai trẻ sáng giá như cậu, Giovanni, con trai của một người bạn lâu năm của ta, có phải cái tư tưởng sai lầm rồi đâm ra sùng bài một kẻ có thể đang rình rập cơ hội để nắm lấy tính mạng cậu trong bàn tay hắn. Sự thật là Tiến sĩ Rappaccini đáng kính của ta cũng chỉ có hiểu biết sâu rộng về khoa học ngang ngửa với bất kì thành viên nào trong hội đồng trường Y khoa đại học của chúng ta-- có lẽ trừ duy nhất một ngoại lệ-- ở Padua hay trên cả nước Ý; tuy thế cũng có những ý kiến phản đối gay gắt về đạo đức y học trong hành vi của ông ta.”

     “Chính xác là họ nói gì?” chàng trai trẻ hỏi.

     “Anh bạn Giovanni của ta đang mạng bệnh tật trong thể xác hay tâm hồn gì chăng, mà chàng bỗng nhiên tò mò về các nhà y học thế?” giáo sư mìm cười. “Người ta đã nói rằng—và chính tôi đã biết ông ta rất rõ nên có thể kiểm chứng-- ông ta đặt khoa học lên trên nhân loại. Các bệnh nhân của ông ta chỉ gây hứng thú cho ông ta như đối tượng trong một thí nghiệm mới. Ông ta sẵn sàng hi sinh bất cứ cái mạng nào, kể cả của chính ông ta, hoặc bất kì điều gì thân thương nhất, với cái giá là một hạt muối thêm vào trong biển kiến thức khoa học của ông ta.”

    “Một con người khủng khiếp,” cháng Guasconti nhận xét, mường tượng trong đầu hình ảnh Rappaccini lạnh lẽo và thuần lí tính. “tuy vậy, thưa giáo sư khả kính, chẳng phải cũng cao thượng lắm ư? Có bao nhiêu người có được sự sùng bái đối với khoa học như vậy?”

    “Lạy Chúa lòng lành,” vị giáo sư trả lời, có vẻ phật ý “ít nhất người ta cũng nên mang những quan niệm về đạo đức Y học đúng đắn hơn là hắn. Còn đối với hắn, cái lí thuyết của hắn là hết thảy đạo đức đều gói gọn trong mớ độc dược chiết xuất từ thực vật của hắn. Những thứ cây cỏ này hắn tự tay gây trồng, và từ đó đã bào chế hàng loạt các phân loại độc dược mới, mà tính giết chóc còn kinh khủng hơn bất cứ sản phẩm nào của Tự nhiên. Nếu không không phải do chính tay hắn bảo quản cẩn thận, những hóa chất này hẳn đã gieo rắc tật nguyền khắp thế giới. Sự thực thì hắn cũng chưa gây ra mối họa nào tương xứng với cái nguy hiểm tiềm tàng trong những hóa chất ấy. Hơn nữa phải thú nhận rằng đôi lúc hắn cũng bào chế nên được những liều thuốc giải mạnh mẽ, mặc dù cũng chẳng đáng kể công gì mấy,-- tất cả chỉ do may mắn mà thôi, -- nhưng hắn đáng nhận lãnh trách nhiệm cho những thất bại của chính mình, đó mới trăm phần là thành quả của chính hắn.”

    Chàng trai trẻ hẳn đã tiếp thu những lơi từ Baglioni một cách độ lượng hơn, nếu chàng biết được rằng từ lâu đã có một cuộc ganh đua khốc liệt giữa Baglioni và tiến sĩ Rappaccini, mà cái người thứ hai thường được xem là kẻ thắng thế. Nếu độc giả của tôi muốn tự mình phán xét, tôi để nghị bạn tham khảo những lá thư hằn thù từ cả hai phía, giờ vẫn còn được lưu giữ trong phòng Y Dược của trường Đại học Padua.

     “Tôi không không rõ, thưa ngài giáo sư có học vị cao cả,” Giovannisau nói, sau một hồi ngẫm nghĩ về Rappaccini và lòng sùng bái đối với khoa học của ông ta, “tôi không rõ vị bác sĩ này yêu cái khoa học của ông ta đến cỡ nào, nhưng chắc chắn có một thứ ông ta sủng ái hơn cả. Ông ta có một cô con gái.”

    “A ha!” vị giáo sư cười lớn. “Vậy là bí mật của chàng Giovanni nhà ta đã lộ tẩy rồi. Cậu đã nghe nói về cô gái nhà Rappaccini, người khiến cho tất cả trai trẻ ở Padua phát cuồng, mặc dù mới non nửa tá có cơ hội nhìn cho rõ khuôn mặt cô ấy. Tôi thú thật chẳng biết gì nhiều về cô Beatrice, ngoài chuyện cha cô đã dạy cô mọi điều về khoa học. Rằng dù tiếng trẻ trung và xinh đẹp tuyệt trần, cô ta đủ uyên thâm để chiếm hắn một ghế giáo sư. Dám cha cô nhắm cô vào cái ghế của tôi lắm. Những thứ tin đồn thất thiệt ấy, chẳng đáng nghe cũng chẳng đáng bàn tới. Ta dốc cạn ly lachryma này thôi, cậu Giovanni”

    Guasconti quay về chỗ trọ của mình, thân thể nóng bừng vì rượu khiến cho đầu óc chàng đong đưa quanh những hình ảnh gợi nhớ đến Tiến sĩ Rappaccini và nàng Beatrice `. Trên đường về, chàng ghé vào tiệm hoa, mua một bó hoa tươi.

    Trèo lên đến căn hộ của mình, chàng chọn một chỗ ngôi bên cửa sổ, nhưng cần thận nấp vào sau bóng bức tường, khiến cho chàng có thể quan sát khu vườn bên dưới mà không bị phát giác. Mọi vật dưới tầm mắt của chàng hoàn toàn bất động. Những cây hoa dị thường đang tắm mình trong ánh nắng, lại gật đầu nhè nhẹ với nhau như đám bạn bè thâm tình. Trong đám hơi nước mờ quanh thác nước vỡ, cái cây kiểng cực kì diễm lệ nặng trĩu những viên đá tím rực sáng trong không gian, soi bóng xuống mặt nước hồ, Nhưng tôi đã kể, khu vườn là một khung cảnh tĩnh mịch. Thế nhưng không lâu sau, đúng như Giovanni vừa hi vọng vừa lo sợ, một bóng người xuất hiện bên dưới chiếc cổng chạm kiểu cổ, lướt vào giữa những luống hoa, uống lấy uống để mùi thơm của chúng, cứ như thể nàng là một trong những nhân vật thần thoại sống nhờ vào hương hoa.

    Nhìn thấy Beatrice lần nữa, chàng trai trẻ sững sờ nhận ra rằng sắc đẹp của nàng còn vượt quá hình dung trong trí nhớ của chàng. Thật sắc nét, thật yêu kiều, nàng như bừng sáng trong ánh nắng, và, như Giovanni nhận xét thành tiếng với chính mình, dường như còn rọi sáng những góc có bóng râm trong khu vườn. Khuôn mặt nàng trông thư giãn và biểu cảm hơn dịp trước, làm chàng sững sờ vì vẻ hồn nhiên và ngọt ngào toát ra từ nó,-- những phẩm chất mà chàng không hề ngờ tới nơi nàng, nó khiến chàng tự hỏi câu hỏi muôn thuở rằng nàng thuộc giống người nào. Chàng cũng không khỏi nhận ra, hay mường tượng, điểm tương đồng đáng ngạc nhiên giữa người thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần với cái cây kiếng đang nở từng bông hoa tựa những viên đá quý bên ngòi nước,-- một sự sao chép còn được làm rõ thêm giữa những họa tiết trên chiếc váy nàng và sự sắp xếp của những bông hoa trong chậu. Tiến đến gần cái cây kiểng, nàng dang rộng vòng tay với một cái ôm nồng đượm, gần gũi đến nỗi những khuôn mặt nàng vùi vào vòng lá dày và những lọn tóc quyện vào những đóa hoa.

     “Hãy ban cho ta hơi thở của em,” Beatrice thốt lên; “Ta héo hon, nhợt nhạt vì không khí thường. Hãy cho ta nụ hoa này của em, ta sẽ ngắt với những ngón tay nhẹ nhàng nhất, và đặt nó vào thật gần nơi trái tim ta."