Pages

Friday, January 10, 2014

"Con gài của Rappaccini"- Nathaniel Hawthorne

Một năm trôi qua cũng phải thêm được chút gì chứ. Dù có giết chết một tuyệt tác văn học bằng việc chuyển ngữ, thì cũng giúp mình luyện tiếng Việt

NGƯỜI CON GÁI CỦA RAPPACCINI 

Từ lâu lắm rồi, một chàng trai trẻ, Giovanni Guasconti, đến nơi này từ tận miền nam nước Ý để theo học trường Đại Học Padua. Tài sản quý giá của chàng không có gì ngoại trừ một nắm vàng trong túi áo. Chàng trọ trong một căn phòng ảm đạm nằm sát tầng thượng một căn biệt thự đồ sộ có cái vẻ từng là lâu đài thuộc về một nhà quý tộc Padua. Quả thực trên cánh cửa ra vào vẫn còn khắc nhiều rất nhiều huy hiệu của một gia tộc đã từ lâu tuyệt giống. Chàng trai lạ mặt, chẳng phải không có học thức về nền văn học nước nhà, nhớ lại rằng một người tổ tiên của chàng, có lẽ cũng là chủ nhân của tòa lâu đài này, đã được Dante lấy làm hình mẫu khắc họa kẻ gieo rắc thống khổ trong tuyệt phẩm Inferno. Tất cả liên tưởng ấy, cộng với nỗi bồi hồi của một chàng trai trẻ lần đầu xa nhà, khiến Giovanni đánh tiếng thở dài nặng nề khi chàng đưa mắt nhìn quanh căn hộ lẻ loi và trống huơ trống hoác.

 “Lạy Đức Mẹ đồng trinh!” bà vú già Lisabetta thốt lên. Rất ấn tượng với vẻ đẹp đến choáng ngợp của chàng trai trẻ, bà sẵn sàng nán lại giúp vui cho chàng “Một tiếng thờ dài như vậy sao lại có thể đến từ miệng của một chàng trai trẻ? Chàng nghĩ căn nhà này u buồn lắm chăng? Hãy nhìn ra cửa sổ, và chàng sẽ thấy mặt trời cũng rực rỡ như khi chàng đã bỏ lại ở Naples vậy.”

 Guasconti máy móc làm như được bảo, nhưng cảm thấy không thể đồng ý với bà lão rằng mặt trời ở Paduan cũng tươi vui như ở miền Nam nước Ý. Dù sao thì ánh nắng này cũng ngập tràn trên khu vườn ngay bên dưới bệ cửa sổ, nơi sinh sống vô số các loài thực vật dường như đã được chăm sóc với độ tỉ mỉ đặc biệt.

“Khu vườn này cũng thuộc về căn nhà ư?” Giovanni hỏi. “Lạy Chúa lòng lành, trừ khi khu vườn ấy đầy những thảo mộc lành mạnh hơn mọi thứ cây cỏ trong này.” bà Lisabetta trả lời “Không, khu vườn này được gây dựng bởi chính bàn tay của ngài Gaicomo Rappaccini, vị bác sĩ lừng danh mà tôi dám bảo có tiếng tăm vang đến tận Naples. Người ta đồn rằng ông ta chiết xuất từ các thứ cây này các loại y dược mạnh tựa như bùa chú. Thường thì chàng sẽ thấy vị bác sĩ làm việc, và đôi khi cả con gái người đang nhặt hái những bông hoa lạ lùng mọc trong khu vườn.” Bà quản gia giờ đã làm mọi thử có thể cho căn phòng, sau khi cầu chúc cho tất cả các vị thánh phù hộ chàng trai trẻ, đã cáo lui.

Giovanni vẫn không tìm được gì đáng làm hơn là nhìn ngắm khu vườn bên dưới. Từ vẻ ngoài, chàng đánh giá đấy là một trong các khu vườn thí nghiệm có nguồn gốc xa xưa trên đất Padua hơn là bất kì nơi nào khác trong lãnh thổ nước Ý hay trên cả thế giới. Hay là nơ đây đã một thời dùng làm nơi tiêu khiển cho một gia đình giàu có. Bởi rằng ngày giữa trung tâm khu vườn là đống đổ nát của một thác nước cẩm thạch, chạm khắc bởi những hình dáng lạ lùng, nhưng vỡ nát một cách đau lòng, khiến cho không thể nào nhận dạng hình thiết kế ban đầu từ những mảnh vỡ còn sót lại. Thế nhưng ngòi nước vẫn tiếp tục phun lên, phản chiếu ánh nắng lấp lánh tựa hồ rất vui vẻ. Một chút tiếng nước róc rách vang đến tận khung cửa sổ của chàng trai trẻ, khiến chàng hình dung thác nước này như một linh hồn bất tử, mãi mãi hát lên bài ca bất diệt, không hề lưu tâm đến mọi biến cố thăng trầm xung quanh, khi mà từng thế kỉ trôi qua để lại dấu ấn hủy diệt lên đá cẩm thạch và mọi hình khắc trang trí. Xung quanh cái hồ nơi thác nước trồng muôn ngàn hoa thơm cỏ lạ, dường như là những loại cần thật nhiều hơi nước mát lành để nuôi dưỡng những cái lá khổng lồ, hay ở những cây khác là những bông hoa đẹp kì vĩ. Đặc biệt nhất là một cây trồng trong chậu cẩm thạch đặt ngay giữa hồ, nơi đó trổ những bông hoa tím, lộng lẫy và sáng chói tựa như những viên ngọc quý, hết thảy tạo thành một khung cảnh ấn tượng đến mức đủ khiển cả khu vườn sáng bừng kể cả khi mặt trời đã khuất bóng. Mỗi tấc đất chen chúc các loài cây cỏ, dù có kém tươi đẹp thì vẫn mang cái vẻ được chăm chút vô cùng kĩ lưỡng, cảm giác như mỗi cây hoa đều mang một phẩm chất đặc biệt của riêng mình, và bộ óc của nhà khoa học chăm sóc chúng hiểu rất rõ. Một số cây được trồng trong những cái bình cổ ngoằng nghoèo những hình khắc, một số khác trong những chậy cây thông thường. Một số bò trườn như rắn trên mặt đất, hoặc cố bám để leo lên cao, cuốn lấy bất kì vật gì trong tầm với. Một cây dây leo đã cuốn mình quanh bức tượng thần Vertummus, làm cho bức tượng giờ được bao phủ bởi nhiều tầng lá xanh, một sự sắp xếp tài tình đến nỗi khiến cho bức tượng đáng được đem làm tài liệu giảng dạy được.

Giovanni hãy còn nán lại bên cửa sổ khi chàng cảm giác có tiếng lá cây xào xạc và nhận thấy có người đang làm việc trong vườn. Hình dáng của người đàn ông dần lọt vào thầm mắt, cho thấy rõ ràng không phải là một người làm vườn bình thường. Ông ta cao nhưng gầy hốc hác, vàng bủng và trông bệnh hoạn, khoác màu áo choàng đen của học giả. Ông đã quá tuổi trung niên, tóc xám và chòm râu thưa, với khuôn mặt hằn vẻ trí thức, nhưng hẳn chưa bao giờ, kể cả trong những ngày trai trẻ, từng gợi lên chút ấm áp thật lòng nào.

 Không gì có thể bì được với sự căng thẳng của nhà khoa học này khi ông ta chăm chú xem xét từng nhánh cây chìa ra trên lối đi: có vẻ như ông nhìn xuyên thấu vào bản chất tự nhiên sâu xa nhất của chúng, giám sát từng đặc điểm kiến tạo, và cố gắng giải mã tại sao chiếc lá này mọc thành hình thù như vậy và cái kia thì không, và từng khác biệt chi li vè mùi hương và hình dáng cánh giữa những bông hoa cùng loài. Ngoài sự hiểu biết và vẻ trí thức sâu sắc, không hề có một động chạm thân mật nào giữa ông và đám thực vật kia. Ngược lại, ông tránh tuyệt đối mọi tiếp xúc với chúng, một sự né tránh đập vào mắt Giovanni hết sức khó chịu. Bởi sự ghê tởm ấy đến từ con người đang đi giữa những luống hoa kiều diễm, tựa như đang đề phòng ác thú, rắn đôc hay quỷ dữ, mà chỉ một giây lơ là thì hậu quả sẽ khôn lường. Đáng sợ thay là bầu không khí bất an ấy lơ lửng xung quanh kẻ đang chăm một khu vườn, cái thú tiêu khiển lành mạnh nhất của người bình thường, một thứ mô phỏng công việc và niềm vui của Đấng kiến tạo. Phải chăng, phải chăng đây là vườn Địa Đàng của thế giới hiện đại này? Và con người này, với ám ảnh nhận thức về những thứ độc địa do chính bàn tay ông ta tạo nên,-- phải chăng đây chính là Adam?

 Con người hoài nghi này, khi ông ngắt những chiếc là úa hay cắt tỉa những nhánh cây thừa thãi, bảo vệ đôi tay bằng một cặp găng dày. Cảm thấy trang bị như vậy hãy còn chưa đủ. Khi bước ngang qua khu vườn đến chỗ cái cây kiêu sa treo những viên ngọc tím, ông kéo lên mặt một thứ mặt nạ che kín miệng và mũi, cứ như hết thảy vẻ đẹp kia che đậy một thứ quỷ quyệt chết người. Cảm thấy việc làm ấy cũng quá nguy hiểm, ông ta giật ngược lại, gỡ bỏ chiếc mặt nạ và gọi lớn bằng chất giọng khàn đục của một kẻ bệnh tật, “Beatrice! Beatrice!”

“Con đây, thưa cha. Có việc gì chăng?” một giọng trẻ trung vọng ra từ cửa sổ bên ngôi nhà đối diện, sống động tựa như ánh mặt trời vùng nhiệt đới, giọng nói khiến Giovanni nghĩ đến, mặc dù chàng không hiểu tại sao, một màu đỏ tía và tím thăm thẳm, và không gian đậm đặc mùi nước hoa nồng. “Cha ở trong vườn ư?”

“Phải, Beatrice,” người làm vườn trả lời, “và ta cần con giúp.”

 Liền sau đấy hiện ra dưới cánh cổng chạm hình dáng một người con gái, một người con gái đánh động mạnh mẽ đến mọi giác quan tựa như những đóa hoa tươi thắm nhất, đẹp như sáng ngày, với những đường cong mềm mại và rõ nét đến nỗi một chút e ấp cũng là quá nhiều. Nàng trông tràn trề sinh lực; thế nhưng tất cả những đặc điểm ấy, trong sức xuân hừng hực của nàng, được kìm xuống như con ngừa hãm cương bởi vòng tròn trinh trắng và thánh thiện bao quanh nàng. Về phía Giovanni, có lẽ mọi tư tưởng của chàng đã nhuốm một màu u ám, bởi ấn tượng trong mắt chàng về người con gái xinh đẹp lạ lùng kia là như thể nàng cũng là một đóa hoa, một người chị em mang hình dáng con người của đám thực vật kia, mặc dù tươi thắm hơn cả những bông đẹp nhất, nhưng chỉ có thể được chạm vào qua một lớp găng tay và không thể tiến lại gần nếu không trang bị một chiếc mặt nạ. Khi Beatrice rảo bước trên những lối đi, có thể thấy rằng nàng mơn trớn và hít căng mùi hương từ những cây hoa mà người cha nàng đã tránh như tránh tà.

 “Beatrice,” người cha nói, “xem xem bao nhiêu liều mới đủ cho của báu của chúng ta. Cằn cỗi như ta đây, cái mạng ta sẽ phải trả giá đắt nếu ta tiến lại gần nó như nó đòi hỏi. Vì thế, ta sợ rằng phải giao phó nó hoàn toàn cho con.”

 “Con rất vui lòng được làm như cha bảo,” cái giọng sống động ấy lại thốt lên khi nàng cúi xuống cái cây hoa đẹp lộng lẫy và vòng tay ôm lấy nó. “Phải, em gái ta, điều kì diệu của ta. Beatrice của em sẽ là người chăm sóc và nuôi dưỡng em. Đổi lại, em sẽ ban cho ta những nụ hôn và hương thơm của em, thứ mà đối với ta tựa như hơi thở của cuộc sống.”

Và rồi, với tất cả trìu mến trong cử chỉ khiến cho lời nói của nàng quả thật không có chút phóng đại nào, nàng đắm mình bận bịu với việc chăm cho cái cây kiểng mọi sự quan tâm chăm sóc mà nó đòi hỏi. Và Giovanni, từ khung cửa sổ cao ngất, đưa tay dụi mắt và tự hỏi đấy là người con gái chăm cho cái cây kiểng nàng yêu thích nhất, hay là người chị lớn nâng niu em nhỏ với tất cả yêu thương. Khung cảnh ấy cũng nhanh chóng tan rã. Bởi vì hoặc là Tiến sĩ Rapaccini đã hoàn tất công việc trong vườn, hoặc là đôi mắt đôi mắt cảnh giác của ông đã thoáng thấy chàng trai lạ mặt, mà ông khoác tay cô con gái bước vào nhà. Đêm tối khép lại, và mùi hương hoa ngạt thở dường như tìm đường lên trên xuyên qua khung cửa sổ mở. Gianovanni bước về chiếc ghế tràng kỉ dài và mơ về hoa và người trinh nữ. Hoa và trinh nữ thực không mấy khác nhau, cả hai đều ẩn chứa một mối tai ương tiềm ẩn.

Thế nhưng ánh sáng ban ngày bao giờ cũng có khuynh hướng điều chỉnh lại những sai lầm của trí tường tượng lẫn óc phán đoán, hai thứ dễ bị đánh lừa trong bóng tối sau phút hoàng hôn, hay trong thứ ánh sáng nhạt nhòa của vầng trăng. Việc chàng làm đầu tiên sau khi vừa thức dậy là bật tung cửa cánh cửa sổ nhìn xuống khu vườn, nơi đã gieo trong giấc mơ chàng đầy những hạt bí ẩn. Chàng thấy ngạc nhiên và có chút xấu hổ khi nhìn thấy mọi vật rất đỗi thực tế và bình thường. Khi những tia nắng ban mai chiếu xuyên qua những hạt sương đọng trên lá và những cánh hoa, tô điểm thêm cho vẻ đẹp của những bông hoa quý hiếm, và cũng mang chúng trở lại bên trong ranh giới của những gì tự nhiên. Chàng trai trẻ vui mừng rằng trong lòng tỉnh lẻ nghèo nàn, chàng có được cái đặc ân là góc nhìn vào khu vườn sang trọng và đáng yêu này. Nó đối với chàng, chàng tự nhủ, sẽ như là hiện thân của thiên nhiên. Ngài tiến sĩ bệnh hoạn Giacomo Rappaccini lẫn cô con gái xinh đẹp của ông đều không hiện diện; cho nên Giovanni chưa thể kiểm chứng xem những phẩm chất chàng nhận ra ở họ là thật hay chỉ là sản phẩm của óc tưởng tượng; nhưng chàng quyết tâm đánh giá mọi vấn đề theo cách khách quan nhất.

Trong ngày hôm ấy, Giovanni đến thăm giáo sư Pietro Baglioni, giáo sư y học ở trường, một bác sĩ rất có tiếng tăm và địa vị. Vị giáo sư là một người lớn tuổi có cung cách vui vẻ, dễ chịu. Ông giữ chàng trai trẻ lại dùng bữa tối và khiến chàng hết sức tự nhiên, thoài mái bằng tài ăn nói lôi cuốn và phóng khoáng, đặc biệt khi các cuộc đối thoại được làm nóng bằng vài cốc rượu Tuscan. Giovanni, đoan chắc rằng hai nhà khoa học, sống cùng một thành phố hẳn phải quen biết nhau, nhân cơ hội này nhắc đến tên Tiến sĩ Rappaccini. Nhưng vị giáo sư không trả lời với chút hào hứng nào như chàng đã mong đợi.

“Chẳng có nhà y sĩ chân chính nào mà không biết và ca tụng tài năng như Rappaccini,” ông trả lời, “Thế nhưng mặt khác, lương tâm ta không cho phép một chàng trai trẻ sáng giá như cậu, Giovanni, con trai của một người bạn lâu năm của ta, có phải cái tư tưởng sai lầm rồi đâm ra sùng bài một kẻ có thể đang rình rập cơ hội để nắm lấy tính mạng cậu trong bàn tay hắn. Sự thật là Tiến sĩ Rappaccini đáng kính của ta cũng chỉ có hiểu biết sâu rộng về khoa học ngang ngửa với bất kì thành viên nào trong hội đồng trường Y khoa đại học của chúng ta-- có lẽ trừ duy nhất một ngoại lệ-- ở Padua hay trên cả nước Ý; tuy thế cũng có những ý kiến phản đối gay gắt về đạo đức y học trong hành vi của ông ta.”

 “Chính xác là họ nói gì?” chàng trai trẻ hỏi.

 “Anh bạn Giovanni của ta đang mạng bệnh tật trong thể xác hay tâm hồn gì chăng, mà chàng bỗng nhiên tò mò về các nhà y học thế?” giáo sư mìm cười. “Người ta đã nói rằng—và chính tôi đã biết ông ta rất rõ nên có thể kiểm chứng-- ông ta đặt khoa học lên trên nhân loại. Các bệnh nhân của ông ta chỉ gây hứng thú cho ông ta như đối tượng trong một thí nghiệm mới. Ông ta sẵn sàng hi sinh bất cứ cái mạng nào, kể cả của chính ông ta, hoặc bất kì điều gì thân thương nhất, với cái giá là một hạt muối thêm vào trong biển kiến thức khoa học của ông ta.”

“Một con người khủng khiếp,” cháng Guasconti nhận xét, mường tượng trong đầu hình ảnh Rappaccini lạnh lẽo và thuần lí tính. “tuy vậy, thưa giáo sư khả kính, chẳng phải cũng cao thượng lắm ư? Có bao nhiêu người có được sự sùng bái đối với khoa học như vậy?”

“Lạy Chúa lòng lành,” vị giáo sư trả lời, có vẻ phật ý “ít nhất người ta cũng nên mang những quan niệm về đạo đức Y học đúng đắn hơn là hắn. Còn đối với hắn, cái lí thuyết của hắn là hết thảy đạo đức đều gói gọn trong mớ độc dược chiết xuất từ thực vật của hắn. Những thứ cây cỏ này hắn tự tay gây trồng, và từ đó đã bào chế hàng loạt các phân loại độc dược mới, mà tính giết chóc còn kinh khủng hơn bất cứ sản phẩm nào của Tự nhiên. Nếu không không phải do chính tay hắn bảo quản cẩn thận, những hóa chất này hẳn đã gieo rắc tật nguyền khắp thế giới. Sự thực thì hắn cũng chưa gây ra mối họa nào tương xứng với cái nguy hiểm tiềm tàng trong những hóa chất ấy. Hơn nữa phải thú nhận rằng đôi lúc hắn cũng bào chế nên được những liều thuốc giải mạnh mẽ, mặc dù cũng chẳng đáng kể công gì mấy,-- tất cả chỉ do may mắn mà thôi, -- nhưng hắn đáng nhận lãnh trách nhiệm cho những thất bại của chính mình, đó mới trăm phần là thành quả của chính hắn.”

Chàng trai trẻ hẳn đã tiếp thu những lơi từ Baglioni một cách độ lượng hơn, nếu chàng biết được rằng từ lâu đã có một cuộc ganh đua khốc liệt giữa Baglioni và tiến sĩ Rappaccini, mà cái người thứ hai thường được xem là kẻ thắng thế. Nếu độc giả của tôi muốn tự mình phán xét, tôi để nghị bạn tham khảo những lá thư hằn thù từ cả hai phía, giờ vẫn còn được lưu giữ trong phòng Y Dược của trường Đại học Padua.

 “Tôi không không rõ, thưa ngài giáo sư có học vị cao cả,” Giovannisau nói, sau một hồi ngẫm nghĩ về Rappaccini và lòng sùng bái đối với khoa học của ông ta, “tôi không rõ vị bác sĩ này yêu cái khoa học của ông ta đến cỡ nào, nhưng chắc chắn có một thứ ông ta sủng ái hơn cả. Ông ta có một cô con gái.”

“A ha!” vị giáo sư cười lớn. “Vậy là bí mật của chàng Giovanni nhà ta đã lộ tẩy rồi. Cậu đã nghe nói về cô gái nhà Rappaccini, người khiến cho tất cả trai trẻ ở Padua phát cuồng, mặc dù mới non nửa tá có cơ hội nhìn cho rõ khuôn mặt cô ấy. Tôi thú thật chẳng biết gì nhiều về cô Beatrice, ngoài chuyện cha cô đã dạy cô mọi điều về khoa học. Rằng dù tiếng trẻ trung và xinh đẹp tuyệt trần, cô ta đủ uyên thâm để chiếm hắn một ghế giáo sư. Dám cha cô nhắm cô vào cái ghế của tôi lắm. Những thứ tin đồn thất thiệt ấy, chẳng đáng nghe cũng chẳng đáng bàn tới. Ta dốc cạn ly lachryma này thôi, cậu Giovanni”

Guasconti quay về chỗ trọ của mình, thân thể nóng bừng vì rượu khiến cho đầu óc chàng đong đưa quanh những hình ảnh gợi nhớ đến Tiến sĩ Rappaccini và nàng Beatrice `. Trên đường về, chàng ghé vào tiệm hoa, mua một bó hoa tươi.

Trèo lên đến căn hộ của mình, chàng chọn một chỗ ngôi bên cửa sổ, nhưng cần thận nấp vào sau bóng bức tường, khiến cho chàng có thể quan sát khu vườn bên dưới mà không bị phát giác. Mọi vật dưới tầm mắt của chàng hoàn toàn bất động. Những cây hoa dị thường đang tắm mình trong ánh nắng, lại gật đầu nhè nhẹ với nhau như đám bạn bè thâm tình. Trong đám hơi nước mờ quanh thác nước vỡ, cái cây kiểng cực kì diễm lệ nặng trĩu những viên đá tím rực sáng trong không gian, soi bóng xuống mặt nước hồ, Nhưng tôi đã kể, khu vườn là một khung cảnh tĩnh mịch. Thế nhưng không lâu sau, đúng như Giovanni vừa hi vọng vừa lo sợ, một bóng người xuất hiện bên dưới chiếc cổng chạm kiểu cổ, lướt vào giữa những luống hoa, uống lấy uống để mùi thơm của chúng, cứ như thể nàng là một trong những nhân vật thần thoại sống nhờ vào hương hoa.

Nhìn thấy Beatrice lần nữa, chàng trai trẻ sững sờ nhận ra rằng sắc đẹp của nàng còn vượt quá hình dung trong trí nhớ của chàng. Thật sắc nét, thật yêu kiều, nàng như bừng sáng trong ánh nắng, và, như Giovanni nhận xét thành tiếng với chính mình, dường như còn rọi sáng những góc có bóng râm trong khu vườn. Khuôn mặt nàng trông thư giãn và biểu cảm hơn dịp trước, làm chàng sững sờ vì vẻ hồn nhiên và ngọt ngào toát ra từ nó,-- những phẩm chất mà chàng không hề ngờ tới nơi nàng, nó khiến chàng tự hỏi câu hỏi muôn thuở rằng nàng thuộc giống người nào. Chàng cũng không khỏi nhận ra, hay mường tượng, điểm tương đồng đáng ngạc nhiên giữa người thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần với cái cây kiếng đang nở từng bông hoa tựa những viên đá quý bên ngòi nước,-- một sự sao chép còn được làm rõ thêm giữa những họa tiết trên chiếc váy nàng và sự sắp xếp của những bông hoa trong chậu. Tiến đến gần cái cây kiểng, nàng dang rộng vòng tay với một cái ôm nồng đượm, gần gũi đến nỗi những khuôn mặt nàng vùi vào vòng lá dày và những lọn tóc quyện vào những đóa hoa.

 “Hãy ban cho ta hơi thở của em,” Beatrice thốt lên; “Ta héo hon, nhợt nhạt vì không khí thường. Hãy cho ta nụ hoa này của em, ta sẽ ngắt với những ngón tay nhẹ nhàng nhất, và đặt nó vào thật gần nơi trái tim ta."

Thursday, January 2, 2014

The New Year Blue





Don't you just love New Year's?

You can start all over.

Everybody gets a second chance.

Forrest Gump has to be my favorite movie of all the time. I'm never tired of watching it, or quoting from it.

It is the breaking dawn of 2014 and everyone's inboxes are supposedly filled with warmest wishes and most positive outlooks to the future and many happy returns. No one mentions it, the New Year blue, but everyone has it if you ask. We prefer to think of the New Year blue as a spontaneous mood alternation in between periods of blissful joy, not the reigning emotion on the special occasion.

'sides, it is neither sorrow nor sadness. It is a blue. Something rather suffocating, consuming, right when you're thinking happy thoughts. It's natural. It's periodical. It's expected.

It's less obvious in the screaming crowd of people wearing funny hats at Time Square on December 31, as Ryan Seacrest was counting down, when confetti poured all over them and the traditional melody Auld Lang Syne was in the air. Nevertheless, after some remarkable kissing scenes, the crowd disbanded, and the people who successfully convinced themselves that descending giant disco ball and paper rain were worth waiting for 12 hours in 27 degree Fahrenheit began withdrawing to their own lodgings. (Seriously, it would only seem worth it for me if you were right at the shoulders of Ryan Seacrest; and I wonder how the lucky ones who were refrained from pulling his hair). Time to chew on the New Year blue.



I used to think that ABBA's Happy New Year song was a universal song and ABBA only sang the best cover ever known to mankind. Facts now are, Happy New Year is not universal- Americans are clueless about it. The song is trademarked and is ABBA-original. Its composers are Björn Ulvaeus and Benny Anderson, the two male singer-members of ABBA (a.k.a. the BB in ABBA) and also who wrote most of their songs. So the fact that no one ever did a noticeable cover of such a widely beloved song except the official wannabe-group A*Teen is not that no one dares, but no one is given permission or that they just won't bother.




The whole point is that Happy New Year, the international hit song, is listened to and adored by people who would not understand most of the lyric. Hence, few ever know or care for more than half of the chorus. The truth is Happy New Year only fits to be sung once, in one new year only: the new year of 1990. The year number, "the end of '89," is in the third verse of the lyric, but people's attention to words meaning doesn't span that further down. The song freezes in time, and replaying it over the years is like wearing a shirt with a year number on it over time. The English-speaking world fails to point that out, because the song is unpopular to them. They who get it probably cannot stand how much truth it says about the celebration and the blue of the New Year

The nature of the New Year blue is not anxiety for the unknown. More than ever, people want to be positive and optimistic at the launch of new year, and they are. They have every reason to: January, new beginning, second chance. The unpredictable are beautifully mysterious at this magical moment. Perhaps, the New Year blue is more rooted in nostalgia for the past. Hence, when we raise a cup of kindness, we drink for the old time, for auld lang syne. The New Year blue is about the inevitability of time, like that of strands of gray hair. The New Year blue is the little guilt for what belongs to the old days, like the guilt for an old toy. The New Year blue is the blue at a happy ending, when we're once again goalless and purposeless. When a future goal is already in time past, all efforts that led toward it feel like a big waste. Finishing a tough project in a class where you really care to learn, get an A, and realize the fun lay all in the process of doing it.

Look who's talking in Forrest Gump. Only people who dearly wish to let go of the past can feel only excitement, looking forward to a new year.

Seems to me now
That the dreams we had before
Are all dead, nothing more
Than confetti on the floor

Why does the blue happens as the clock turns 12 at midnight on New Year's Eve? It's because we make the moment so symbolic. A turning page. A new chapter. A new beginning. Some kind of a cut-off point, a separation from the past. The only way to suppress the blue is fixing our gazes forward. Make new plans for the new person you have become over the old year. Carry on the legacy of the past.

And he thinks he'll be okay
Dragging on, feet of clay
Never knowing he's astray
Keeps on going anyway...

New Year is not naturally hopeful. We have to try the hardest , as if walking with feet of clay, to make meaning of it. That's why we make resolutions. They give us something to look forward to, hope for, to avoid being consumed by the New Year blue, even if we don't keep them afterward. New Year resolutions are not made in a moment of high spirit. Only a goal in mind, however dim and distant, gives meaning to what we are doing at hands. Even if such goal is never reached, or in itself unattainable, or astray, it really doesn't matter.

            May we all have our hope, our will to try
            If we don't we may as well lay down and die.

At the end of the blue, it is still a Happy New Year. And people will only remember the chorus.
__________________________________________________________
Chú thích: Bài viết trên blog tiếng Anh. Post lại không nằm ngoài mục đích xem nó kéo được bao nhiêu lượt xem. Chắc sau này phải biết giản lược các bài blog lại.


Wednesday, November 27, 2013

Đồng Mỹ kim mệnh giá 1 triệu đô la


Ảnh chụp trong phòng Computer Lab của trường.

Vì mình không học môn Kinh Tế nên không thể bình luận gì thêm việc đồng tiền này sẽ thay đổi nền kinh tế Mỹ như thế nào (đẩy nhanh lạm phát?) :(

Saturday, November 2, 2013

Tàu điện ngầm ở New York

Bài này không có gì ngoại trừ vài hình ảnh thường thường đến tự cho là đặc sắc Thảo chụp được sau một năm làm bạn với hệ thống tàu điện ngầm ở New York. Bây giờ Thảo đi lại bằng giao thông công cộng ở New York rất thoải mái, đi đâu cũng tới, và rất cảm thấy cái thú của việc tự do trong phương tiện di chuyển.

Những chuyện tai nghe mắt thấy hay ho trong mạng lưới tàu điện của New York nhiều vô kể, nhưng không phải chuyện nào cũng thu được trên máy hình được. Ví dụ như lần Thảo bắt gặp một ông đang đọc truyện Lucky Luke trên xe điện. Đó là lần đầu tiên Thảo phát hiện một người Mỹ đọc truyện cao bồi miền viễn Tây Lucky Luke.

Còn dưới đây là những hình mau lẹ và may mắn chụp được.

Nhạc sĩ hát rong biểu diễn trong bến tàu điện ngầm. Hình ảnh không hề hiếm. Kèn saxophone thì hình như đây là lần đầu tiên thấy. Sau này nhìn thấy kèn đồng nhạc jazz lại thì thường là các nhóm của người da đen. Nhạc cụ khác thường thấy là guitar và Tây ban cầm cho người Mễ, harmonica và accordion (vừa nhận ra tên hai nhạc cụ đều có liên quan tới hòa âm) cho người dân nhập cư Bắc Âu, và một lần thấy đàn violin với một người Á.
 Ông cảnh sát và chú chó thuộc giống chó chăn cừu Đức (German Shepard), là nòi chó được cảnh sát và quân sự yêu mến nhất. Không biết người ta vừa phát hiện ra một vụ ma túy hay sao. Hình ảnh này khiến mình cảm thấy được bảo vệ và vô cùng an tâm
 Hình ảnh này không có gì đặc biệt, chỉ thấy là đường sá ở Mỹ được đánh số để dễ nhớ dễ tìm. Đôi lúc cũng chen vào một tên vĩ nhân khiến mình bối rối.
Nhìn bảng để biết tàu gì chạy qua đường ray này và chạy về hướng nào.
 Người đi lên tàu điện ngầm. Nguyên tắc là đợi người trên đi xuống rồi người dưới sẽ đi lên.
 Bảng Exit chỉ ra cầu thang để lên lại mặt đất, và một bảng ghi rõ mình sẽ chui lên nhằm ngóc ngách nào.
Vạch vàng an toàn nằm ở hai bên mép. Khi đứng đợi tàu điện, không được dẫm lên vạch vàng.
 Nếu vì dại dột, bất cần mà ngã ra ngoài đường ray? Bên dưới vỉa hè có một khoảng hở nằm ngay vạch vàng, khi ngã xuống thì lập tức lăn vào trong phía dưới vỉa hè. Cố trèo lên lại trong lúc hoảng loạn rất nguy hiểm.
Hình ảnh này cũng cho thấy một phần rác thải ứ đọng trong hệ thống tàu điện ngầm đã rất lâu đời của New York.
 Cửa tàu điện có cảm ứng an toàn như cửa thang máy. Nếu có gì ở giữa thì cửa sẽ tự động mở ra, không khép chặt lại.
Đứng chờ tàu điện ngay khúc tàu vừa chui ra khỏi hầm khá hay. Khi tàu chạy rất nhanh, tàu còn kéo theo không khí bên hông. Khi về bến, tàu phanh gấp tại, không khí bị đầy lùa về trước do quán tính, tạo ra một luồng gió thổi tung mát rượi.
 Bản đồ mạng lưới tàu điện ngầm, được đặt ở khắp nơi trong bến đợi và trên toa tàu. Khi nhìn quen thì thấy rất rõ ràng và chi tiết. Hình như Thảo có đọc đâu đó là đường tàu điện ngầm không thẳng băng như thế này, nhưng trên bản đồ được vẽ thẳng, bởi khách đi tàu không quan tâm tới đường đi mà quan tâm tới điểm đến.
 Một số tàu mới hơn có bản điện tử đánh dấu những bến đã đi qua và những bến sắp tới. Một số tàu cũ không có thì tự mình phải nhìn và chú ý xem đã đi đến đâu. Nếu đi quá bến, thật ra chỉ cần ra khỏi tàu, lên chuyến cùng tên nhưng chạy hướng ngược lại để quay về bến cũ.
 Một ban nhạc Mexico, hát và đàn. Thảo đã muốn quay phim lại nhưng hơi ngại nên thôi. Hình như họ đang không xin ăn trong lúc này mà chỉ tiện thể chơi nhạc mua vui cho khách đi tàu. Người New York nổi tiếng thờ ơ với mọi diễn biến trên tàu điện. Người ta đã từng thí nghiệm sự thờ ơ của người New York bằng cách cho nhạc công nổi tiếng xuống biểu diễn trên tàu điện. Lí do là những chuyện khác thường đã trở thành thường ngày trong môi trường này. Có một thời điểm mà quá nhiều sự ngạc nhiên khiến con người không còn muốn ngạc nhiên nữa.
Nghe nhạc bên trong toa tàu điện ngầm rất hay. Tàu cách âm và không tạo tiếng vang. Và nghe nhạc live bao giờ cũng khiến mình ngất ngây.
 Chu du bằng xe đạp, lành mạnh, bảo vệ sức khỏe và bảo vệ môi trường. Những khi mệt mỏi (hoặc không có lối đi) lại mang xe xuống đi nhờ một đoạn tàu điện. Việc này mới chỉ thấy nam làm, chưa thấy nữ bao giờ. Hình như thang máy trong bên tàu chỉ dành cho người tàn tật thôi.
 Người vô gia cư ngủ trong bến tàu điện. Khi trời lạnh thì dưới lòng đất khá ấm. Khi trời nóng thì dưới lòng đất khá mát. Chỉ có là cái khách sạn này tốn $2.5 cho mỗi lượt ra vào, bằng một vé đi tàu điện ở New York. Khi đã check-in rồi thì ở bao nhiêu đêm tùy thích. Người ăn xin thường hay lên xuống từng toa tàu để xin tiền khách đi xe. Ở dưới bến tàu cũng có bán đồ ăn những chỉ là kẹo, nước.
 Lối đi xuống một ga tàu điện. Chỗ này nằm ở Bryant Park, một công viên nổi tiếng, đúng khu trung tâm, và đường số 42 đi xuyên qua Time Square.
 Một quầy thông tin, nơi mình có thể đến hỏi (và hỏi một người sống thực sự) về tuyến đường, tàu, và bất kì cái gì liên quan tới sinh tồn trong thế giới tàu điện ngầm.
 Một toa tàu điện nằm ở đường ray xương sống trong giờ cao điểm, và bạn Trung Quốc xinh xắn của Thảo.
 Không có tấm nào chụp được người lái tàu điện. Lúc mới qua Thảo băn khoăn hoài, không biết tàu điện tự vận hành hay có người lái (???). Lí do là thấy công việc lái tàu hơi chán, lúc nào cũng chỉ thấy một đường hầm hun hút trước mặt, và các ga tàu điện giống y hệt nhau. Lái xe bus có vẻ còn thú vị hơn nhiều.


Hãng tôm Bubba Gump

Ngạc nhiên một đêm bát bộ ở Time Square: Hãng tôm Bubba Gump là hãng tôm có thật!!!
Thật tình là nhìn cứ tưởng mơ
Theo sử sách Hollywood ghi lại thì ý tưởng hãng tôm Bubba Gump được thai nghén từ giấc mơ sở hữu một chiếc thuyền đánh tôm của Benjamin Buford "Bubba" Blue, được sự đồng thuận và tham gia nhiệt thành của người bạn, người đồng chí, người anh em sinh đôi của anh là Forrest Gump. Viễn cảnh trong đầu Bubba là hai người bạn sống trên tàu tôm, sống bằng tôm và nghề tôm.

 Không may Bubba hi sinh trong chiến tranh Việt Nam
 "Sau đó Bubba nói một điều mà tôi không bao giờ quên."
"Tôi muốn về nhà."
 Với ảnh hưởng là ngôi sao bóng bàn trong giải All-America, Forrest nói một lời nói dối nho nhỏ là anh thích sử dụng vợt bóng bàn Flex-o-lite, và được tặng $25,000. Sau khi sắm một vest thật oách và dẫn mẹ đi ăn một bữa thật sang tại nhà hàng, anh còn $24,562.67 để mua một chiếc thuyền dánh tôm. Anh đặt tên nó là "Jenny."
Trung úy Dan giữ lời hứa với Forrest rằng khi Forrest trở thành thuyền trưởng, ông sẽ tình nguyện làm thuyền phó.
Cơn bão Carmen năm 1974 đánh nát toàn bộ tàu đánh tôm trong khu vực, trừ duy nhất tàu Jenny. Công việc đánh bắt cực kì bội thu, Bubba Gump Shrimps Company thành công lớn, và Trunng úy Dan giảng hòa với Chúa.
 Mặc dù phim Forrest Gump lượt lại những sự kiện chấn động lịch sử của nước Mỹ trong những năm 60s, 70s, sự thực ngày nay thì hãng tôm Bubba Gump lại là một nhà hàng hải sản khá lớn, ra đời bằng cảm hứng từ phim Forrest Gump.

Ước mơ của Bubba và Forrest có gì đó hơi giống với giấc mơ của George Milton và Lennie Small trong Of Mice and Men (Của Chuột và Người) của nhà văn John Steinbeck. Với câu chuyện được đặt vào một vùng làm nông ở bang California vào thời Đại Khủng Hoảng, giấc mơ của họ là được sở hữu một mảnh đất nhỏ của riêng mình để sinh sống và trồng trọt hoa màu, tự cung cho những nhu cầu của chính mình. Một cuộc sống tự chủ, không chịu luật lệ của một ai. Một giấc mơ rất Mỹ.

Có trùng hợp không khi nhân vật Lennie Small của Steinbeck là cũng một người trí tuệ kém phát triển, một thằng khờ nhưng rất tình cảm. Câu chuyện Của Chuột và Người kết thúc với George nhận ra hoàn cảnh bế tắc và cùng khổ của họ. Trong lúc chỉ có riêng hai người, George tả lại cho Lennie viễn cảnh tương lai tươi sáng của hai người, sau đó giết Lennie bằng một phát súng vào đầu, để Lennie có một cái chết hạnh phúc và không đau đớn. Một câu thơ của Robert Burus trích trong đây , theo như lời bạt của câu chuyện được dịch ra tiếng Việt là được John Steinbeck lấy làm chủ đề tư tưởng: "Những dự tính hoàn hảo của chuột và người thường không thực hiện được"

 Forrest Gump vẫn là bộ phim Thảo thích nhất từ trước đến giờ. Số lần coi đi coi lại không còn đếm được những không bao giờ chán, vì Forrest Gump hay đến từng chi tiết, từng lời thuật hay mẩu đối thoại nhỏ. Dưới đây là bản piano của nhạc nền chính của Forrest Gump, còn gọi là Forrest Gump Theme hay The Feather Theme (nhắc đến chiếc lông đang bay), trong lúc lời hứa tập đàn vẫn treo lơ lửng.


Có một sự kì lạ là những bản cover nhạc trên YouTube mình thích thường là của người Đức cover. Hơi tiếc sự nghiệp học tiếng Đức của mình.