Pages

Tuesday, May 7, 2013

New York Museum of Modern Art và Mỹ thuật hiện đại

Một họa sĩ của lớp nêu ra vấn đề về mỹ thuật hiện đại ngày càng trở nên trừu tượng đến nỗi để quên mất mục tiêu ban đầu của mỹ thuật. Mục đích của hội họa là để giao tiếp, kể một câu chuyện, truyền một thông điệp. Thời trung cổ, nghệ sĩ vẽ tranh và tạc tượng những câu chuyện trong Kinh thánh để giảng đạo cho giáo dân phần đông không biết đọc chữ. Hội họa hiện đại, sau sự ra đời của máy ảnh, không còn áp lực tả thực nữa nên trở nên trừu tượng và giản lược đến nỗi bỏ rơi người thưởng thức, người thưởng thức không có cách gì lần lại tư tưởng ban đầu của họa sĩ được nữa. Cũng thú vị. Đây là video của bạn làm.




Ý tưởng làm Thảo nhớ lại chuyến đi thăm Bảo tàng Nghệ thuật đương đại của New York (New York Museum of Modern Art- MoMA) học kì trước. Ở đấy Thảo được chỉ dẫn là lắng nghe cảm xúc bên trong khi nhìn ngắm bức tranh hơn là cố dịch nghĩa ý nghĩa.

Nếu đọc trước diễn giải của họa sĩ về bức tran, ngắm và ngẫm lại  cũng tự thấy mình cảm nhận được dôi phần, thấy mình khôn ra tí chút. Tuy nhiên như vậy thì họa sĩ vẫn giao tiếp bằng lời chứ không phải bằng tranh nhỉ.

Như bức tranh màu trắng toát có tên là The Voice kia được giảng là vận dụng nghịch lí: bức tranh gọi là The Voice trên một nền trắng tĩnh lặng. Ai mà đoán được...

Bức duy nhất Thảo thấy ấn tượng là bức The Three Musicians của Pablo Picasso. Sắc xanh, vàng, cam, nhìn vào là nghe thấy tiếng nhạc jazz mà chưa cần giảng giải gì hết :).

Bảo tàng MoMA của New York đang sở hữu bức The Starry Night của Van Gogh và một phiên bản của The Scream của Edvard Munch. Người hướng dẫn cho nhóm sinh viên của mình nhận xét rằng ý nghĩa của việc đến tận bảo tàng để ngắm bức tranh thật thay vì ngắm qua ảnh chụp nằm ở những mảng trắng nhỏ quanh rìa bức tranh, nơi cọ vẽ không chạm tới. Nhìn thấy những mảng trắng này mới thấm thía là kiệt tác như The Starry Night vẫn là màu vẽ trên giấy trắng thôi.



Tiếp theo sẽ giới thiệu nghệ thuật đương đại qua góc nhìn của một người bảo vệ tại một viện bảo tàng. Với nghề nghiệp đặc biệt của mình, anh chàng vốn cũng là họa sĩ này thu thập những chuyện tai nghe mắt thấy hằng ngày trong một viện bảo tàng nghệ thuật, rồi vẽ thành bộ comic tự truyện, có tên là It is what it is! Truyện lên tranh có mọi thể loại từ chuyện đối phó với những kẻ thích sờ mó hiện vật, tới việc say mê giảng giải cho khách tham quan về ý nghĩa của các tác phẩm nghệ thuật trừu tượng. Báo The New York Times có một bài viết về Todd Balthazor cùng một số người bảo vệ kiêm họa sĩ trong viện bảo tàng khác, những người bảo vệ có kiến thức và đam mê với nơi mình làm việc.
Bảo tàng Walker Art Center nơi Todd Balthazor đang làm việc chộp ngay lấy bộ truyện này và đăng lên website (<- đọc thêm truyện tranh ở đây). Comic của Todd Balthazor không chỉ có những bài phân tích nghệ thuật gói gọn trong vài ô truyện tranh mà còn bông đùa về việc đa phần nghệ thuật hiện đại quá xa vời và không thực tế mấy, ví dụ như những bức tranh chỉ tuyền một mảng màu.

Và chuyện một họa sĩ muốn chứng minh rằng hội họa không chỉ là ảo giác trong khung tranh mà là thực, có thể chạm đến được.


Sunday, April 28, 2013

Con Bướm- Hans Christian Andersen. Chuyện chưa kể/dịch

Dịch từ truyện "The Butterfly" (1863) của Hans Christian Andersen, theo bản dịch tiếng Anh của Fanny Fuller.

 

Con Bướm

Có một gã bướm đương ngấp nghé ý định kết hôn. Vợ của gã, dĩ nhiên phải là một bông hoa, một bông nhỏ tèo tẹo thật xinh xắn. Gã phóng mắt nhìn xung quanh. Những bông hoa ngồi lặng lẽ, miên man trên đài của từng nàng, trang nghiêm theo đúng kiểu của con gái chưa chồng; nhưng có quá nhiều bông trong số chúng, biết chọn ai bây giờ? Cảm thấy không thể tự mình quyết định, gã tìm đến hoa cúc. Người Pháp gọi nàng là Magaritue, bởi họ tin rằng nàng có tài tiên tri. Những cô gái đang yêu ngắt từng của nàng cánh hoa một và hỏi nàng về người thương “Chàng có yêu ta không? _Bẳng cả trái tim? _Hết sức buồn thương? _Bên trên tất cả? _Không thể kìm giữ? _Thương thầm nhớ trộm? _Chỉ một chút thôi? _Không chút nào cả?” Mỗi người hỏi bằng một ngôn ngữ khác nhau. Gã bướm bay đến bên nàng, nhưng không dứt từng cánh hoa của nàng, mà thay vào đó đặt lên chúng những nụ hôn, nghĩ rằng làm vậy gã sẽ lấy được thiện cảm của nàng.

“Hỡi nàng Margaret ngọt ngào,” gã nói, “trong hết thảy các loài hoa, nàng là người phụ nữ thông tái nhất! Nàng có tài tiên tri! Hãy cho tôi biết, tôi nên cưới bông hoa này hay bông hoa kia? Bông nào? Ước gì tôi biết được, tôi sẽ đến bên cô gái yêu kiều kia, và bày tỏ với nàng ngay!”

Bông cúc nhỏ im lặng không trả lời. Nàng không chịu nổi việc bị gọi là phụ nữ, bởi nàng vẫn còn là một cô bé, và khi người ta vẫn còn là một cô bé, tất nhiên không thể là phụ nữ được.

Gã bướm hỏi thêm lần nữa, rồi lần thứ ba, nhưng nàng nhất định không hé nửa lời. Gã không thèm hỏi nữa và bỏ đi, bụng nghĩ thầm sẽ tự mình đi hỏi.

Lúc ấy vẫn còn đầu mùa xuân, và đương có hằng hà sa số những bông hoa giọt tuyết và hoa diên vĩ. “Trông cũng được đấy,” gã bướm bình phầm “đứng đắn, nhưng nhìn xanh xao quá!” Gã bướm, như bao gã trai trẻ khác, chỉ quan tâm tới phụ nữ lớn tuổi hơn mình.

Gã bay đến những bông mao lương, nhưng cảm thấy chúng ủy mị quá mức; những bông tuilip, quá phô trương; bông đậu chổi, chẳng có thân thế gì; những bông hoa đay, nhỏ người quá—mà có đến là nhiều họ hàng gần xa; và rồi những bông hoa táo, nhìn qua tưởng chừng các nàng hừng hực sức xuân như những đóa hoa hồng, nhưng chúng quả kì sớm nở tối tàn, chỉ một cơn gió thoảng là rụng lả tả. Hôn nhân như vậy thì ngắn ngủi quá. Những bông hoa đậu vừa ý gã nhất, nàng có màu hồng và trắng, thuần khiết và tao nhã, và thuộc loại con gái khéo léo, xinh xắn và giỏi việc nội trợ nữa. Gã gần như đã đem lòng tỏ tình với nàng,và bỗng gã trong thấy treo lủng lẳng gần nàng một vỏ quả đậu với những cánh hoa trắng. “Ai thế?” gã hỏi. “Chị tôi đấy.” bông mầm đậu trả lời.

“Như vậy khi cô già đi trông sẽ y hệt như vậy ư?” gã bướm kinh hãi vội lẩn đi.

Những bông kim ngân rung rinh bên hàng rào- những cô gái trẻ với khuôn mặt dài và làn da vàng ươm- những gã bướm không thích kiểu đẹp ấy. Phải rồi, vậy thì gã muốn gì? Cứ đi mà hỏi gã ấy.

Mùa xuân tàn, mùa hè qua, rồi mùa thu tới. Trăm hoa đua nở, mỗi nàng xúng xính trong bộ cánh đẹp nhất, nhưng vô phương. Sức trẻ tươi mới của gã bướm đã cạn. Trong tuổi già, trái tim gã thèm khát một mùi hương hoa, nhưng những bông thược dược và cẩm chướng lại không có hương. Cho nên gã bướm bay đến cây bạc hà. “Nàng ta chẳng có lấy một bông hoa, nhưng chính bản thân nàng là một bông hoa đấy thôi, bởi nàng thơm ngạt ngào từ đầu đến chân. Ta chọn nàng.”

Nhưng cây bạc hà giữ im lặng, và sau cùng nàng nói: “Tình bạn, và chỉ vậy thôi. Tôi đã già rồi, và anh cũng thế. Ta có thể bầu bạn nhau rất tốt, nhưng làm đám cưới ư? Đừng để ta tự lôi bản thân ra làm trò cười ở cái tuổi thế này”

Cho nên con bướm chẳng thể lấy ai được cả.

Con bướm mãi vẫn là một gã độc thân.

Cuối mùa thu ập đến những cơn mưa rào như trút nước; những cơn gió đập vào lạnh lẽo trên thân cây liễu già, làm cho bên trong của chúng nứt toang hoác. Không thể cứ bay lượn trong bộ cánh mùa hè mãi được. Gã bướm cũng chẳng muốn lang thang ở ngoài trời làm gì; gã đã tình cờ lọt vào một khe cửa, và bên trong có lửa trong lò—phải, bên trong ấy cũng ấm áp tựa như mùa hè vậy;-- gã có thể sống sót qua ngày. “Nhưng cuộc sống thế này không trọn vẹn. Người ta phải có ánh nắng, tự do, và một cô vợ nhỏ.”

Gã bay đến bệ cửa sổ, bị phát hiện, và bị một chiếc kim đâm xuyên qua người và gắn chặt vào một chiếc hộp trưng bày; chẳng ai có thể giúp gã được nữa.

“Bây giờ ta như một cái hoa gắn chặt vào cuống. Thật chẳng dễ chịu chút nào! Nhưng như vậy cũng chẳng khác gì hôn nhân, bị ràng buộc.” Gã tự cảm thấy hài lòng.

“Thỏa mãn như vậy thật thảm hại làm sao!” một bông hoa trồng trong chậu trong căn phòng bình phầm.

“Chẳng ai tin được thứ hoa trồng trong chậu,” gã bướm nghĩ, “chúng tiếp xúc quá nhiều với con người.”

The End
 


Wednesday, April 24, 2013

Chó xinh trong công viên

Có sẵn ảnh nên cứ đưa lên vậy.

Có ai bao giờ lâm vào hoàn cảnh nhiều việc để làm tới nỗi không muốn làm gì cả không?

Central Park một ngày đầu xuân, cây cối còn trụi lủi. Người người vẫn chăm chỉ dắt cún cưng đi dạo. Nhiều con được tỉa tót cẩn thận làm duyên. Cứ tưởng rằng mình không quen nhìn mấy giống chó lạ như vậy nên thích, nhưng rồi thấy người ta xin vuốt ve, xin chụp cũng nhiều.

Thảo thấy sợ khi đưa tay lại gần định vuốt tai thôi, nhưng chó xoay mõm như muốn cắn :), nhưng ông chủ bảo chó phải được ngửi và liếm tay để làm quen, sau đó vuốt ve gì tùy ý.


Saturday, March 30, 2013

Thăm Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên New York- ("Day at the Museum")

Đây là bộ dạng hay bắt gặp ở khách đến thăm bảo tàng lịch sử tự nhiên (American Museum of Natural History)

Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên nằm ở số 200 đường Central Park, theo Thảo là mé Tây của quận đảo Manhattan. Central Park rộng khiếp tới nỗi cái gì nó cũng nằm gần Central Park được cả. American Museum of Natural History cũng là một bảo tàng sống dài hạn bằng tiền quyên góp. May mà dân tình ở đây có ý thức nên kho tàng tư liệu này mới sinh tồn nổi. Cứ mỗi đứa sinh viên nghèo đi du học, đến đâu treo bản tùy-lòng-hảo-tâm cũng không chi quá 50 xu, thì có một doanh nhân thành đạt nào đấy yêu lịch sử và tự nhiên đến nỗi chỉ $30 cho một bận. Đi tàu từ St. John's tới bảo tàng này mất một tiếng. Có thể đi thẳng từ trong ga tàu điện ngầm vào cửa sau của bảo tàng luôn. Xây dựng như vậy chắc là do bảo tàng đón khách đi xe công cộng nhiều. Vậy nên Thảo chưa chụp được cửa chính, chắc cửa chính chỉ đón khách đi taxi.

Như thường lệ là chủ đề của bài post lại đụng hàng với blog "Nước Mỹ nơi tôi đang sống", blog của một bác già đi viễn du, mẹ giới thiệu. Mà trong blog "Nước Mỹ nơi tôi đang sống" ảnh chụp đẹp hơn, có thêm cả thông tin tổng hợp nữa. Vào trong đây để đọc và ngắm ảnh.

Nghe tới chữ lịch sử dễ hình dung ra đại bác và xe tăng, nhưng đây là lịch sử thế giới tự nhiên. Bảo tàng tuy rộng lớn và tiếng tăm, nhưng thực ra Thảo thấy không có gì nhiều để nói, thú thật là khá chán. Lí do là 80% đồ trưng bày ở đây là đồ giả: cây giả, thú giả, có đủ cả lông, mắt, trưng trong lồng kính. Tất nhiên đồ giả cũng có lí của đồ giả. Ví dụ là mẫu vật bướm sống vào đến phòng thí nghiệm ướp xác chắc cũng phải co quắp vặn vẹo, còn đâu vẻ đẹp lộng lẫy hiên ngang nữa. Tóm lại là nguyên tòa nhà này có chức năng như một quyển bách khoa toàn thư cho trẻ con, minh họa bằng hình nộm thay vì bằng tranh. Nếu như nấn ná đọc thì cũng thu được khối cái hay, và cách họ trình bày thông tin rất bắt mắt. Tuy nhiên mình không còn là trẻ con để bị dụ dỗ mới chịu đọc. Hơn nữa, đọc về cách cọp săn mồi, sau đó ngẩng lên thấy cái răng cọp hay con cọp nằm phơi nắng, thích hơn là nhìn con thú nộm trong tư thế vồ mồi bài bản.

Tuy nhiên đánh giá cao công sức người ta làm ra hình nộm rất đẹp. Trong một phòng lớn cho nhiều phòng nhỏ lõm vào tường, ngăn bằng tấm kính, trong mỗi phòng nhỏ là một loài vật với những tư thế tĩnh cứ như động, và bức tranh khung cảnh môi trường tự nhiên dán ở đằng sau tạo cảm giác chiều sâu rất hay, như là mình nhìn thấy hai con cò đây. Về điểm này thì bác viết blog "Nước Mỹ nơi tôi đang sống" bị nhầm vì cái bác bảo không phải là poster lại chính là poster. Bác tưởng là cảnh vật nhân tạo này ở trong lồng kiếng khổng lồ, rất vĩ đại, nhưng Manhattan này người ta chỉ phung phí đất cho cây thật thôi, không phí cho cây nhựa đâu.




Bảo tàng có tận 4 tầng, được chia ra làm nhiều phòng theo chủ đề. Động vật, thực vật chia theo phân bố, đặc trưng vùng miền. Có phòng về lịch sử tiến hóa của loài người, không gian vũ trụ, khoáng thạch và khủng long. 20% phần trăm hàng thật trong này tập trung vào phòng khoáng vật và khủng long. Có điều thật giả bất phân nên mình quy hết 100% là hàng nhái, nhiều món về nhà mới vỡ ra là đồ thật. Rất là oan Thị Kính cho quả thiên thạch Willamette, vốn là quả thiên thạch chạm đất còn nguyên vẹn lớn thứ 6 thế giới hiện này, sờ vào thấy lạnh như bằng sắt nên không buồn chụp hình chung mà chỉ dính một mảng trong lúc mình bận chụp người ta như thế này thôi. Quả thực tảng thiên thạch làm bằng một hợp chất sắt-niken nhưng mình có thói quen nghĩ việc sao băng rơi xuống đầu là quá hiếm.

Phần còn lại của phòng thám hiểm không gian vũ trụ (hi vọng) cũng chỉ là sách giáo khoa
Mô hình mặt trăng:
Và bàn cân trong môi trường trọng lực của mặt trăng. Nếu nhân với 6 lên, xong chuyển sang kg thì Thảo nặng 50 kg. Cân đánh lừa!!

Thích học thiên văn như em thật ra rất nên vào đây. Họ có một hệ thống phim, mô hình, màn hình tương tác.
Trái cầu sinh học này cực hay. Trong môi trường khép kín, ngoài nhiệt lượng lấy từ ánh sáng mặt trời, các sinh vật trong quả cầu này tự cung tự cấp cho nhau trong một chuỗi thức ăn khép kín. Tảo lấy năng lượng từ mặt trời để tạo chất hữu cơ. Tôm ăn tảo và xác thải của tôm lại cung cấp chất hữu cơ cho tảo. Ảnh đẹp hơn ở đây.
Có điều Thảo vẫn cho là cái bình đó rồi sẽ đầy kín tảo và tôm, vậy thì người ta làm sao?

Màn đánh lừa thứ hai là bộ xương khủng long hoàn chỉnh của con T-rex, có đóng trong phim Night at the Museum. Lại tưởng rằng đồ chơi hóa đồ thật.
  

Và cả mô hình con cá vây tay đang chờ biến thành lưỡng cư. Trong phòng thật giả lẫn lộn làm sao không nhầm.

Khó tin nữa là trong đám đá quý, kim cương có hàng thật. Thứ duy nhất chứng minh với mình đấy là hàng thật là sự thể là đã xảy ra nhiều vụ trộm cắp đá quý từ đây.
Thế giới đại dương



Lịch sử tiến hóa của loài người cũng không phải không thường thấy.





Phần lớn ảnh động vật, chim chóc













Văn hóa Mexico tới thời Trung cổ

Người da đỏ



Tổng thống Theodore Roosevelt là tượng đồng chứ không phải tượng sáp nhưu trên phim, lại không ngồi ngựa mà ngồi ghế!



Tóm lại là đi như vậy chỉ nhằm hình dung mình là Ben Stiller cưỡi bộ xương khủng long thôi. Có thể hiểu vì sao người đến đây vài lần ít thích quay lại, trừ khi có đam mê về xương hóa thạch của khủng long :).

Trung tâm trình diễn nghệ thuật Lincoln Center (P1)

Ảnh chụp về đêm ở Josie Robertson Plaza, là quảng trường có vòi phun nằm giữa ba nhà hát lớn nhất của Trung tâm Trình diễn nghệ thuật Lincoln Center (Lincoln Center of Performing Arts) của Mahattan.

Mỗi học kì, sinh viên trong chương trình Honors của St. John's University được tặng cho một vé đi xem nhà hát. Tất nhiên, vé tặng thì không làm sao có chỗ ngồi đẹp nhất được, nhưng thiết kế của khán phòng nhà hát thì bao giờ cũng cho đến cái người ngồi ngoài rìa hàng sau cùng cũng không phải tủi thân. Mặc dù trường chỉ mua về vé giá rẻ và tặng lại, nhưng không phải vé rẻ của một chương trình bá vơ bá vất, hay vẫn còn đang trong quá trình khẳng định tên tuổi đâu. Các tiết mục là những vở kinh điển, được chọn nhằm giới thiệu khái quát cho sinh viên về đặc trưng của nghệ thuật sân khấu. Về thể loại cũng cân bằng opera, ballet, và nhạc giao hưởng. Mỗi thứ Thảo đều đã đi một màn, nên đã đặt chân vào cả ba nhà hát chính của Lincoln Center.

Trong ba tiết mục thì vở opera Don Carlos thấy tập trung và hăng hái nhất :). Đi xem opera cứ phải lo vì trình độ kém mà không thưởng thức được, tuy nhiên trong khán phòng người ta cho thêm phụ đề tiếng Anh dịch từ tiếng Ý hoặc tiếng Pháp. Vì thế có thể thoải mái ngồi dựa vào ghế như đọc một quyển sách. Opera là nghệ thuật sân khấu ra đời từ thời chưa phát minh ra micro, thế nên trong khán phòng cực rộng cũng không trang bị micro làm gì. Giọng ca tưởng không thể hiện hữu trên trần thế kia, vẫn rõ ràng là phát ra từ miệng người ca sĩ. Thảo vẫn thấy nghe hát live dù không chỉnh sửa hay hơn trong phòng thu nhiều, mà bây giờ là giọng live không phải qua một lớp thu thanh nào cả.

Có nhiều nhạc sĩ thử viết opera bằng tiếng Anh nhưng không thành công. Lí do là nguyên âm trong tiếng Anh không khớp được với kĩ thuật opera, để ca sĩ có thể chạm tới những nốt cao không tưởng và thấp không tưởng, vừa khỏe, vừa dài, vừa có tình, những kĩ thuật không hiểu sao đặc biệt hòa thuận với tiếng Ý và tiếng Pháp, và Ý cũng là cái nôi của nghệ thuật opera. Có một số sáng tác văn học của nhà văn Mỹ, như Edgar Allan Poe, khi viết thành vở opera cũng được dịch sang tiếng Pháp. À, lời thoại của opera đọc như một tác phẩm văn học thực thụ vậy. Còn những vở như  Faust (vở ruột của Bianca Castafiore) Don Giovanni (Đông Gioăn), là những cái tên chính mình cũng đã phải nghe qua, thể hiện ảnh hưởng của opera trong văn học và văn hóa phương Tây. Opera cũng không phải toàn bi kịch thống thiết, như vở Marriage of Figaro của Mozart là được giới thiệu cho Thảo là một vở hài kịch không cười thì thôi.

Theo ấn tượng ban đầu thì nghệ thuật opera không chỉ có giọng nhức tai của Bianca Castafiore...
(Bài Jewel bằng tiếng Ý, nhưng trên phim Tintin dịch ra tiếng Anh, nên Bianca không kéo dài dây dưa mấy so với nghệ sĩ opera biểu diễn thật :))

...Mà còn những bài quả thực đáng yêu và dễ nghe, như màn này trong Il Barbiere di Siviglia
(Anh thợ cạo thành Seville)

Trong video này ai không nghĩ tới cảnh chuột Jerry đem chanh lên mút trong lúc mèo Tom đang hát Opera trước khác giả thì coi lại phim cho vui :).

Friday, March 29, 2013

Mái trường đại học thân yêu

Lần đầu tiên vọc Window MovieMaker, tác phẩm là một video clip dài 10 phút, tập trung gần hết tất cả ảnh chụp trường St. John's University từ đầu năm đến Christmas, chèn thêm 3 bài nhạc vào, cũng khá ưng ý.